Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và coi đó là yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, năng lực lãnh đạo của Đảng được biểu hiện ở trình độ hoạch định cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chủ trương, chính sách một cách đúng đắn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đề ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng; định hướng sự hoạt động của Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị cũng như quần chúng nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội nhằm hiện thực hóa đường lối, nghị quyết trong thực tiễn cuộc sống. Năng lực lãnh đạo của Đảng phải được thể hiện qua năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, Người cho rằng, việc nâng cao năng lực lãnh đạo là vấn đề thuộc về bản chất và là cơ sở tạo nên sức sống cho Đảng, góp phần củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

quan diem HCM
Bác Hồ dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam. Ảnh tư liệu

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là nhân tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định trong mọi thành công và thắng lợi của Đảng và cách mạng. Người khẳng định: Cách mạng “trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vững mạnh cách mệnh mới thành công”(1). Do vậy, việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là việc làm cần thiết, thường xuyên, lâu dài và là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Có như vậy, Đảng mới luôn thực sự là hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc và thời đại, luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân trong mọi thời kỳ cách mạng. Người thường nhắc nhở: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(2).

Như vậy, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao năng lực cầm quyền, xét đến cùng chính là nâng cao văn hoá cầm quyền. Đây là vấn đề sống còn của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng nghìn năm… Nó đòi hỏi cán bộ và đảng viên phải khắc phục căn bệnh quan liêu và cô độc hẹp hòi để liên hệ chặt chẽ với quần chúng, do đó mà phát huy được đầy đủ tính sáng tạo của hàng triệu quần chúng nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội”(3). Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều sáng tạo trong việc nâng cao năng lực cầm quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong đó tập trung vào những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, không ngừng hoàn thiện về phẩm chất trí tuệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề trí tuệ của Đảng, nhất là khi Đảng cầm quyền, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững năng lực, bản lĩnh lãnh đạo, nhất là trong những giai đoạn phát triển đặc thù, mang tính bước ngoặt. Người khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(4). Ở đây, “văn minh” bao hàm cả trí tuệ, cả lý tưởng, mục đích cao quý, định hướng cho sự tiến bộ, tiến hóa, phát triển của đất nước, vì con người với những quan hệ tự nhiên xã hội tốt đẹp. Đảng ta là văn minh, đạo đức nghĩa là Đảng có tư chất văn hoá và trí tuệ cao. Biểu hiện rõ nhất của trí tuệ Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là Đảng phải đem đến những đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với hiện thực của đất nước, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Đường lối, chính sách này có thể được tính đến ở các quy mô khác nhau. Nhưng xét đến cùng đường lối, chính sách của Đảng phải được hiện thực hóa trong cuộc sống và nhiều đường lối, chính sách thành công như vậy chứng tỏ tầm cỡ trí tuệ của Đảng.

Muốn vậy, Đảng phải không ngừng nâng cao tầm trí tuệ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong từng thời kỳ khác nhau. Nếu không thường xuyên học tập nâng cao trình độ, chúng ta sẽ bị tụt hậu không theo kịp sự phát triển của thế giới và thời đại, không thể làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. Để đáp ứng được những yêu cầu đó, Đảng phải không ngừng hoàn thiện về trí tuệ, năng lực lãnh đạo để hoạch định và thực hiện tốt đường lối đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đất nước và thời đại. Chỉ có như vậy, Đảng mới “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Đảng mới thật sự là hiện thân cho trí tuệ, lương tâm của dân tộc và thời đại.

Thứ hai, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, đổi mới phương thức lãnh đạo cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là một yêu cầu rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Bởi trong mỗi một thời kỳ cách mạng có những đòi hỏi khách quan do sự thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ. Do vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng không cố định, bất biến mà có thể thay đổi, được áp dụng linh hoạt tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trình độ, năng lực của Đảng, đối tượng lãnh đạo (các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể nhân dân). Đối tượng lãnh đạo ngày càng phát triển về trình độ nhận thức, ý thức dân chủ… Vì vậy, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xã hội là yêu cầu tất yếu, khách quan. Khi nói về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương hôm nay của ta là đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”(6); “Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng căn cứ vào tình hình trong nước và diễn biến trên thế giới để đề ra những khẩu hiệu, mục đích và kế hoạch đấu tranh. Đảng quy định ở giai đoạn nào thì phải dựa vào lực lượng nào, cô lập và phân hoá lực lượng nào để tiêu diệt kẻ thù của giai cấp, của nhân dân”(7).

Thứ ba, phát huy dân chủ trong Đảng.

Đây là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để đảm đương được vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng phải mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải giữ vững truyền thống đoàn kết, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình, luôn xây dựng và tự chỉnh đốn; đồng thời Đảng phải là tấm gương thực hành dân chủ... Người khẳng định: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”(8), “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”(9); trong Đảng “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(10). Mặt khác, mỗi đảng viên bất cứ ở địa vị nào cũng phải làm gương dân chủ.

Thực hiện dân chủ trong hoạt động của Đảng được biểu hiện trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, trong sinh hoạt đảng, trong lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, trong công tác cán bộ… Khi nói về dân chủ trong lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân để phát huy tính tích cực sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc của Nhà nước”(11). Phải làm sao để: “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến… Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc”(12). Do vậy, vấn đề phát huy dân chủ trong Đảng phải được nhận thức vừa là mục tiêu, vừa là động lực để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Các tổ chức đảng, cấp ủy các cấp, mọi đảng viên phải tự giác thực hiện và kiên quyết đấu tranh với các tư tưởng, hành vi sai trái vi phạm dân chủ trong Đảng và cả xã hội. Chỉ khi thực hiện tốt nhiệm vụ này mới giữ vững, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh.

Thứ tư, tăng cường công tác xây dựng Đảng gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng và đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”(13). Muốn vậy, Đảng phải chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Chỉ có như vậy, Đảng mới giữ vững vai trò lãnh đạo của mình, giữ được uy tín của mình trước nhân dân. Theo Người: Cán bộ, đảng viên phải “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”(14).

Đồng thời, một trong những yêu cầu cơ bản của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo của Đảng, nâng cao trình độ kiến thức, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng, lãng phí, các hiện tượng sa sút, suy thoái về phẩm chất, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên một cách có hiệu quả; tăng cường dân chủ và kỷ luật, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, khắc phục bệnh quan liêu, bao biện, xa rời, coi thường quần chúng, củng cố mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vì vậy, đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, các hiện tượng sa sút, suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng.

Thực tiễn hơn 30 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới nói chung, đổi mới tư duy nói riêng ở Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Có được những thành tựu to lớn như vậy một phần là do sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự nỗ lực phấn đấu của toàn dân. Sự lãnh đạo của Đảng là yêu cầu khách quan và là một nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự thắng lợi của công cuộc đổi mới. Cùng với những thành tựu đã đạt được, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng cao. Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Việc củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đạt được một số kết quả”(15).

Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Đảng thời gian qua còn có những bất cập, chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Trước ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, toàn cầu hoá, sự tác động của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bên cạnh đó năng lực và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, chưa đáp ứng được với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng; “công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nề nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu”(16). Tình trạng chủ nghĩa cá nhân, tham ô, tham nhũng, lãng phí… trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội nhưng chậm được phát hiện và ngăn chặn kịp thời hoặc có ngăn chặn nhưng hiệu quả chưa cao. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện; ở một số cấp ủy việc giáo dục đạo đức, lối sống còn bị xem nhẹ hoặc hình thức. Tại Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có những diễn biến phức tạp”(17). Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (khoá XI) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc....”(18). Đồng thời, không ít đảng viên thiếu trách nhiệm, không tích cực tham gia vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Tình trạng trên nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ làm xói mòn các giá trị văn hoá tốt đẹp của Đảng, trong đó có văn hoá cầm quyền làm cho Đảng ngày càng mất sức chiến đấu, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, gây trở ngại lớn đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Từ thực tiễn thành công và chưa thành công của công cuộc đổi mới thời gian qua, có thể khẳng định, việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trở thành một yêu cầu cấp bách. Vì vậy, việc kế thừa và phát huy quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề trên vừa có ý nghĩa lâu dài vừa có ý nghĩa cấp bách trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân ta đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (khoá XI) nhằm "ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”(19).

Cùng với việc triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp cơ bản về công tác xây dựng Đảng, với bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, với truyền thống hơn 85 năm kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chắc chắn Đảng ta sẽ tạo ra một bước trưởng thành mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

ThS. Nguyễn Tùng Lâm - Trường Đại học Chính trị

Theo http://tcnn.vn

Thu Hiền (st)

Ghi chú:

(1)  Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 2002, tr.267-268.

(2), (5), (13) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Sđd, tr.557-558; tr.510; tr.503.

(3) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 8, Sđd, tr.493.

(4),(10) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Sđd, tr.5; tr.118.

(6) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Sđd, tr.26.

(7), (8), (9) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Sđd, tr.232; tr.241; tr.492.

(11) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Sđd, tr.590.

(12), (14) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Sđd, tr.280; tr.382.

(15), (16), (17) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr.163; tr.174; tr.185.

(18) Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI), về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

(19) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, Nxb CTQG, H. 2012, tr.26.

Bài viết mới nhất:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập

thongketruycap