Nhật ký trong tù

 

Hồ Chí Minh – Viết bằng chữ Hán năm 1942 – 1943
Bản dịch của Viện Văn học
In trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù


nhat-ky-trong-tu1
Bìa tập Thơ Nhật ký trong tù


Bài 1

Thân thể tại ngục trung,

Tinh thần tại ngục ngoại;

Dục thành đại sự nghiệp,

Tinh thần cánh yếu đại.

Thân thể ở trong ngục,

Tinh thần ở ngoài ngục;

Muốn lên sự nghiệp lớn,

Tinh thần càng phải cao.

Thân thể ở trong lao,

Tinh thần ở ngoài lao;

Muốn lên sự nghiệp lớn,

Tinh thần càng phải cao.

                Nam Trân dịch

(Trong nguyên bản, bốn câu thơ này không có đầu đề, chép ở ngoài bìa tập Ngục trung nhật ký cùng hình vẽ hai tay bị xiềng, có lẽ được tác giả coi như một lời đề từ cho toàn tập )

Bài 2

Khai quyển

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi

Nhân vị tù trung vô sở vi

Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật

Thả ngâm thả đãi tự do thì

Mở đầu tập Nhật ký

Già này vốn không thích ngâm thơ,

Nhân vì trong ngục không có gì làm

Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài

Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do

Ngâm thơ ta vốn không ham,

Nhưng vì trong ngục biết là chi đây;

Ngày dài ngâm đợi cho khuây,

Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

                    Nam Trân dịch

Bài 3

Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu

 

Túc Vinh khước sử dư mông nhục

Cố ý trì diên ngã khứ trình

Gián điệp hiềm nghi không niết tạo

Bả nhân danh dự bạch hy sinh

Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh

Phố tên Túc Vinh mà khiến ta mang nhục,

Cố ý làm chậm trễ hành trình của ta;

Bày đặt ra trò tình nghi gián điệp,

Không dưng làm mất danh dự của Người.

 

Túc Vinh mà để ta mang nhục,

Cố ý dằng dai, chậm bước mình;

Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,

Cho người vô cớ mất thanh danh.

Huệ Chi dịch

Túc Vinh là tên một phố ở thị trấn huyện Thiên Bảo, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; Tác giả bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt ngày 29/08/1942. Câu đầu bài thơ còn ngụ ý chơi chữ, lấy “mông nhục” (mang nhục) đối lại với “túc vinh” (đủ vinh), làm tăng ý nghĩa mỉa mai hài hước việc bắt người vô lý của nhà cầm quyền Tưởng Giới Thạch.

Bài 4

Nhập Tĩnh Tây huyện ngục

Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm

Thiên thượng tình vân trục vũ vân

Tình vũ phù vân phi khứ liễu

Ngục trung lưu trú tự do nhân

Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây

Trong ngục tù cũ đón tù mới

Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;

Mây tạnh, mây mưa, mấy đám mây nổi bay đi hết,

Chỉ còn lại người tự do trong ngục.

Trong lao tù cũ đón tù mới,

Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;

Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết,

Còn lại trong tù khách tự do.

                         Nam Trân dịch

Tĩnh Tây là một huyện thuộc Quảng Tây, gần biên giới Trung - Việt. Tác giả bị bắt ở huyện Thiên Bảo cách Tĩnh Tây khá xa nhưng lại bị đưa ngược về Tĩnh Tây giam giữ.

 

Bài 5 -6- 7

Thế lộ nan

                         I

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham

Na tri bình lộ cánh nan kham

Cao sơn lộ hổ chung vô dạng

Bình lộ phùng nhân khước bị giam.

                         II

Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân

Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân

Vô nại phong ba bình địa khởi

Tống dư nhập ngụ tác gia tân

                         III

Trung thành ngã bản vô tâm cứu

Khước bị hiềm nghi tố Hán gian

Xử thế nguyên lai phi dị dị

Nhi kim xử thế cánh nan nan.

Đường đời hiểm trở

 

I

Đi khắp non cao và núi hiểm,

Nào ngờ đường phẳng lại khó qua;

Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì,

Đường phẳng gặp người lại bị bắt!

                         II

Ta vốn là đại biểu dân Việt Nam,

Định đến Trung Hoa gặp nhân vật trọng yếu;

Không dưng đất bằng nổi sóng gió,

Đưa ta vào làm “khách quý” trong tù!

                         III

Vốn trung thực thành thật, ta không có điều gì thẹn với lòng

Thế mà bị tình nghi là Hán gian;

Việc xử thế vốn không phải là dễ,

Lúc này, xử thế càng khó khăn hơn.

                         I

Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,

Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!

Núi cao gặp hổ mà vô sự,

Đường phẳng gặp người bị tống lao?!

 

                         II

Ta là đại biểu dân Việt Nam,

Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;

Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,

Phải làm “khách quý” ở nhà giam!

 

                         III

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,

Lại bị tình nghi là Hán gian;

Xử thế từ xưa không phải dễ,

Mà nay, xử thế khó khăn hơn.

Nam Trân dịch

 

Bài 8 -9

Tảo

                         I

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng

Chiếu trước lung môn môn vị khai

Lung lý hiện thời hoàn hắc ám

Quang minh khước dĩ diện tiền lai.

                         II

Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt

Bát chung hưởng liễu tảo xan khai

Khuyến quân thả ngật nhất cá bão

Bĩ cực chi thì tất thái lai.

 

Buổi sớm

 

                         I

Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,

Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;

Giờ đây trong lao còn đen tối,

Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước mặt.

                          II

Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,

Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt đầu;

Khuyên anh hãy cứ ăn no,

Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.

                         I

Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,

Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;

Trong ngục giờ đây còn tối mịt,

Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.

 

                         II

Sớm dậy, người người đua bắt rận,

Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai;

Khuyên anh hãy gắn ăn no bụng,

Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.

Nam Trân dịch

(Còn nữa)
Kim Yến (st)

 

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin