BÁC CÒN SỐNG MÃI VỚI NON SÔNG ĐẤT NƯỚC

            Đã vào hè năm 1975, phượng đã nở đỏ tưng bừng khắp nơi, ve râm ran trên khắp các đường phố Hà Nội. Sen cũng đã ngát thơm ở Hồ Tây. Nhưng Thủ đô dường như vẫn chưa hết ngây ngất vui mừng vì đại thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. 

            Trên một vùng đồi núi xa, các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 - đơn vị có trọng trách thiêng liêng bảo vệ thi hài Bác từ ngày tạm xa Hà Nội lên đây - nay trong những ngày đầu tháng 5 này, ngoài sự vui mừng đại thắng, Đoàn còn có cả sự hồi hộp mong chờ ngày sẽ được rước Bác trở về Thủ đô. Đoàn đã được lệnh của Bộ cho quân liên tục tập luyện với các tình huống khác nhau theo giả định để sẵn sàng đón nhận lệnh cụ thể…

            Và đã sang tháng 7, toàn đơn vị cùng toàn thể các bác sĩ, y sĩ phụ trách thuốc men… đều như reo cả lên. Điều mong chờ đã đến: Đã có chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy cho Đoàn 69 chuẩn bị mọi mặt để rước Bác trở về Thủ đô. Dịp này Chính phủ và Đảng cũng sẽ tổ chức Lễ khánh thành Lăng Bác và mừng đất nước toàn thắng, và cũng là mừng Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1975.

            Một trong những công việc đầu tiên của Đoàn 69 là kiểm tra, sửa soạn và tổ chức luyện tập các phương án đảm bảo phương tiện kỹ thuật, xe cộ, đồng thời sửa sang lại đường xá và tổ chức bảo vệ an ninh suốt dọc đường từ K84 qua Sơn Tây - con đường vốn đã rất xấu, vừa qua lại có chủ ý để cho nó như hoang hóa từ lâu để bảo đảm bí mật, an toàn cho K84, nơi đang bảo vệ Bác trong gần 6 năm qua.

            Trong khi đó ở Hà Nội, Trung đoàn 144 cũng hết sức vui mừng được lệnh tuyển chọn 150 sĩ quan và chiến sĩ hành quân bằng cơ giới lên một vùng đồi ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ dựng lên cả mô hình bằng tre nứa tựa như Lăng Bác để luyện tập phục vụ ngày đón Bác trở về và cả những ngày lễ lớn sau đó theo đúng nghi lễ Nhà nước. Rồi tập cả mọi công việc bảo vệ an ninh tuyệt đối. Tất cả phải hết sức thuần thục. Trong những ngày luyện tập đã có 2 lần đơn vị được về Ba Đình để làm quen với địa hình thực tế. Cho đến trước ngày đón Bác về Lăng, số cán bộ, chiến sĩ này kết hợp với cán bộ, chiến sĩ ở cơ quan trung đoàn thành lập Đoàn 275 làm nhiệm vụ gác tiêu binh danh dự ở Lăng Bác và bảo vệ an ninh, an toàn toàn khu vực Lăng lâu dài.

            Thế rồi lệnh của Bộ Quốc phòng được đưa tới: Đoàn 69 chuẩn bị tích cực chu đáo nhất để sẵn sàng nhận lệnh rước Bác về Thủ đô.

            Cả Đoàn náo nức, rạo rực trong niềm vui khôn tả. Đảng ủy Đoàn họp ngay bàn kế hoạch hành quân.

            Rất mau lẹ, tất cả mọi việc chuẩn bị trong ngoài đã hoàn tất và được báo lên Bộ. Ngày chính thức đón Bác về Thủ đô đã được Bộ ấn định: 18 tháng 7 năm 1975. Ở Hà nội, mọi công việc để đón Bác về Lăng cũng đã chuẩn bị hoàn hảo.

            Ấy là một buổi chiều muộn khô ráo, hoàng hôn tuyệt đẹp đỏ rực cả bầu trời. Trời đất và tất cả rừng núi Ba vì hùng vĩ cùng như hướng cả về K84 để vọng tiễn người Anh hùng trở về Thủ đô với tất cả sự huy hoàng và niềm tôn kính to lớn.

            Đúng 20 giờ tối hôm ấy đoàn xe về tới Quảng trường Ba Đình đã sáng lòa như trong cả một trời ánh điện. Trong vùng sáng tuyệt vời ấy, tòa Lăng càng nổi bật lên y như một đài sen thần đang mở ra chờ đón vĩ nhân kiệt xuất của dân tộc ta mà cũng là của cả thế giới nô lệ lầm than trở về.

            Trong không khí hết sức thiêng liêng và xúc động, cánh cửa lớn phía sau Lăng từ từ được mở ra. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Chính phủ cùng bước nhanh tới chiếc xe Ráp chở linh cữu Bác. Những chiến sĩ mặc đại lễ phục nhanh chóng tiến lại với những động tác rất thuần thục được tập luyện từ lâu, cùng theo hiệu lệnh rước Bác vào Lăng trên những bước chân cực kỳ trang trọng và uy nghiêm.

            Đồng chí Nguyễn Lương Bằng thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước trước hết  bày tỏ nỗi vui mừng khôn xiết của Đảng và Chính phủ trước linh cữu Bác đã về tới đây - Thủ đô của cả nước. Rồi thay mặt Trung ương, đồng chí cảm ơn toàn thể nhân dân ta từ Bắc tới Nam, trong đó có quân đội anh hùng của ta, cảm ơn các Bạn Liên Xô đã giúp đỡ ta chí tình trong việc lưu giữ thi hài Bác tới việc xây dựng Lăng thành công để hôm nay cùng nhau long trọng đón Bác trở về.

            Giây phút quá thiêng liêng. Nhìn Bác vẫn với chòm râu thông thái, với vầng trán bao la và cả gương mặt cao quý, bao dung nằm bình yên như ngủ trên chiếc giường đồng và trong lồng kính trong suốt lướt qua chầm chậm… Nước mắt nhiều người lại trào ra. Ai cũng muốn chạy theo. Ai cũng muốn thốt lên, kêu lên: “Bác ơi! Bác ơi!...” cùng những lời thiết tha, cháy bỏng của lòng mình. Nhưng rồi Bác đã vào Lăng… và hai cánh cửa Lăng đã từ từ khép lại.

            Một tháng sau. Mùa thu đã hiện diện với lá vàng lượn bay trên các đường phố và trên mặt Hồ Gươm. Mây trắng xốp như đi đâu vắng mãi, nay cũng đã trở về lang thang, nhởn nhơ trên bầu trời bao la xanh biếc của Hà Nội.

            Ngày 29 tháng 8 năm 1975, đúng như kế hoạch, Chính phủ và Trung ương Đảng đã tổ chức Lễ khánh thành Lăng Bác. Buổi lễ được làm ở Quảng trường Ba Đình nơi long trọng nhất ở bên kia Quảng trường, đối diện với Lăng Bác. Hội trường được trang trí rất phù hợp với Lễ khánh thành Lăng Bác, nên vô cùng trang trọng. Có thể nói chưa bao giờ ở Hà Nội có buổi lễ đặc biệt như thế này những người đến dự đều xúc động lạ thường.

            Đã có đông đủ các nhà lãnh đạo, các quan chức Chính phủ và đại diện ưu tú của đủ các giới, các đoàn thể, các tầng lớp xã hội, tôn giáo và khách quốc tế. Sự đông đảo hiếm có này đã đủ nói lên ý nghĩa, sự trang nghiêm và tầm cỡ của buổi lễ.

            Sau những bài diễn văn xúc tích và đầy tình cảm sâu lặng của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh… và hai bài phát biểu cảm động của các đồng chí trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô và trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc… Rồi đồng chí Phùng Thế Tài - Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội cùng đồng chí Kinh Chi - Cục trưởng Cục Bảo vệ của quân đội được trao nhiệm vụ hướng dẫn các đoàn đại biểu sang bên Lăng để chính thức mở đầu buổi viếng Bác đầu tiên. Không khí thật đặc biệt, đoàn nối đoàn, hết sức im lặng, nhưng trong sự im lặng ấy là cả một biển động của sự tiếc thương, yêu kính và cả sự tri ân cùng sự quyết tâm đời đời đi theo mãi con đường cách mạng của Bác. Ai ai cũng như muốn được chiêm ngưỡng Bác trước.

            Các đoàn đại biểu cùng nối tiếp nhau từ từ, hết sức nhẹ bước. Hai chiến sĩ mặc đại lễ phục trắng với quân hàm, quân hiệu và huân chương rực rỡ, đứng gác như hai pho tượng ở hai bên cửa, nghiêm trang, tuyệt đẹp canh giấc ngủ cho Người. Hai chiến sĩ tiêu binh danh dự đầu tiên đó là đồng chí Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri- một người ở Việt Bắc - Cao Bằng, một người ở Nghệ An quê Bác. Qua cửa chính, cùng vào tiền sảnh, không ai bảo ai, tất cả cùng dừng lại giữa căn phòng ngước lên ngắm nhìn hàng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” cùng chữ ký của Bác. Dòng chữ này đã được đọc, được nghe không biết bao lần, nhưng thật lạ, hôm nay vào đây tất cả mọi người đều có cảm tưởng như rất mới và cảm xúc lại trào dâng mạnh mẽ. Rồi các đoàn đại biểu lại nối tiếp nhau theo các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Chính phủ lên tầng trên, kính cẩn bước vào phòng trung tâm nơi Bác đang nằm. Trong khung cảnh đặc biệt trang trọng vừa trông thấy Bác, tất cả mọi người đều như lặng đi trong niềm xúc động quá lớn, nhiều người mắt đã rớm lệ. Thật vậy, tới đây mọi người được tận mắt mình chiêm ngưỡng Bác rõ hơn sau 6 năm tạm xa cách vì chiến tranh và xây Lăng. Bây giờ Bác nằm đó, đẹp quá, tao nhã quá, hiền từ và khoan hòa quá, là lãnh tụ vĩ đại và đời đời kính yêu của Đảng và dân tộc ta. Người đã cùng Đảng ta không chỉ lãnh đạo toàn dân đánh thắng cả hai đế quốc hàng đầu thế giới, giải phóng hoàn toàn dân tộc khỏi chế độ nô lệ và thuộc địa kiểu mới trá hình, mà còn mở ra cả một thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh  cho dân tộc, cho nước nhà tiến lên Chủ nghĩa xã hội.

            Sau đó, mọi người lại hết sức nhẹ nhàng cùng nhau trở ra Quảng trường. Nhìn nhau mọi người cũng thấy dường như trên nhiều khóe mắt vẫn còn ngấn lệ. Trong mọi xúc động, nhớ thương nay còn có cả lòng tri ân, hi vọng và tin tưởng rực sáng ở tương lai của dân tộc, của đất nước mà Bác vẫn mãi mãi dẫn đường với tư tưởng, đường lối và tinh thần, tình cảm để lại.  

            Rồi mọi người ra về nhưng vẫn còn ngoái lại ngắm nhìn tòa Lăng và càng thấy đẹp hơn, uy nghi hơn, lòng lại nhủ lòng thầm cảm ơn những người đã xây Lăng và bảo vệ giữ gìn Lăng, cảm ơn cả những người đã chủ trương và quyết tâm lãnh đạo, tổ chức xây lên tòa Lăng này.

*

*    *

            Ba ngày sau là lễ mừng Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1975. Từ sáng sớm cả thành phố như đã đỏ rực màu cờ. Nhân dân nội, ngoại thành đều sắm sửa chuẩn bị để đi dự mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình mới tôn tạo với Lăng Bác. Những người dân Hà Nội đã sống ở đây từ lâu không khỏi liên tưởng đến cái đêm hôm trước và cả sáng 2 tháng 9 năm 1945 cùng nhau nô nức đi dự cuộc mít tinh đón Chính phủ cách mạng ra mắt và Cụ Hồ công bố bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử trước toàn dân và thế giới. Vậy nếu gọi Quốc khánh 1945 là Quốc khánh của Tuyên ngôn Độc lập, thì nay sau đúng 30 năm - sau hai cuộc kháng chiến đánh bại hai đế quốc hàng đầu thế giới - có thể gọi Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1975 là Quốc khánh của Đại thắng và hoàn toàn độc lập, thống nhất, và cũng là Lễ Quốc khánh đầu tiên bên Lăng Bác, một công trình lịch sử, văn hóa to lớn, trang trọng mang đầy ý nghĩa lớn.

            Sáng hôm ấy, 2 tháng 9 năm 1975 , trời lại chiều lòng người, nắng thu vàng như tơ. Trên mặt Quảng trường nay đã được mở rộng rất khác xưa với những ô cỏ xanh đều tăm tắp - nhân dân đã đứng kín đặc mà vẫn ra hàng lối, trật tự, rất đẹp. Cờ đỏ tung bay rợp trời. Loa phóng thanh từ bốn phía luôn luôn cất lên những lời thông báo về chương trình đại lễ rồi phát đi những bản nhạc cách mạng đầy khí phách và hùng tráng. Ai ai cũng cảm thấy rõ ràng nơi đây, đại lễ này rất khác xưa, thật hoành tráng.

            Nhìn lên lễ đài mới, nay ở trên cấp giật thứ hai của bệ Lăng, nhân dân vui vẻ chỉ trỏ với nhau: Kia là các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, kia là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng… những vị mà nhân dân ngoài này đã được biết từ lâu. Còn kia là các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy từ miền Nam mới ra, hoặc mới lần đầu xuất hiện trước đông đảo nhân dân: Các đồng chí Phạm Hùng , Nguyễn Văn Linh, Chu Huy Mân, Võ Chí Công, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát… Nhìn sang lễ đài hai cánh: Các đại biểu cũng đã ngồi kín trong đó, thấy rõ những chiến sĩ đội mũ tai bèo và những cán bộ mặc áo bà ba rất thân thương.

            Lễ duyệt binh mừng Quốc khánh, mừng chiến thắng vĩ đại, non sông thu về một mối diễn ra vô cùng trang trọng và quy mô chưa từng thấy. Đằng sau Quân kỳ quyết thắng lấp lánh Huân chương là những đơn vị hùng hậu của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng: Quân chủng Hải quân, Không quân, những Quân đoàn, Sư đoàn nghe thấy tên đã thấy nức lòng, còn kẻ địch thì run sợ. Đại lộ Hùng Vương ầm vang tiếng xích xe tăng, xe hạng nặng chở pháo, tên lửa. Những bước chân rầm rập của bộ binh lưỡi lê tuốt trần, mặt cùng hướng về Lăng và Lễ đài Chính phủ. Những phi đội máy bay tiêm kích MiG 21 bay theo đội hình mũi tên lướt qua Quảng trường Ba Đình thả theo sau những vệt khói dài tuyệt đẹp.

            Thế rồi cuộc diễu hành của nhân dân như gấm như hoa, từng đoàn diễu qua Lăng và khán đài. Trước hết là các đoàn và nhóm đại biểu của nhân dân miền trong ra: Nam Bộ, Tây Nguyên, Liên Khu 5, Trị - Thiên…, dù xa xôi không ra được đông nhưng cũng rất tưng bừng, náo nhiệt với cờ hoa cùng biết bao nụ cười rạng rỡ. Đặc biệt, xen kẽ với những nụ cười còn có cả nước mắt với tiếng gọi Bác với tất cả niềm thương nhớ cùng lòng tôn kính, tri ân. Có đoàn dừng hẳn lại trước Lăng Bác và Lễ đài để vẫy cờ và hô vang những lời thiết tha nồng cháy. Rồi tới các đoàn miền Bắc. Cũng rất đông đảo. Gần như bất tận. Có đoàn còn đem theo đàn sáo và ca hát vang trời. Những người trên Lễ đài ở hai bên Lăng, cả những đồng chí lãnh đạo đứng trên Lễ đài chính cũng không khỏi xúc động trước hình ảnh vui sướng của cả dân tộc khi đã được hoàn toàn độc lập, thống nhất sau bao nhiêu năm trời bị chia cắt đau khổ và chiến tranh tàn khốc.

            Ở dưới đường Hùng Vương, dòng người vẫn nối tiếp diễu qua với cờ, hoa, biểu ngữ và những lời hô, tiếng hát. Trên Lễ đài chính, các đồng chí lãnh đạo cũng liên tục giơ tay vẫy chào lại mọi tầng lớp nhân dân yêu quý. Tuy nhiên, dù vui bao nhiêu, mừng bao nhiêu, ngước nhìn lên mọi người cũng không sao quên ở trên lễ đài này, những năm qua còn có bàn tay Bác kính yêu cầm một chiếc mũ cứng đã cũ vẫy chào, với một vầng trán mênh mông, một đôi mắt sáng như sao, một nụ cười hiền từ, một chòm râu thông thái.

            Những đợt sóng hoan hô, reo mừng lại cuốn lên tưng bừng, nồng nhiệt, kéo dài đến như say mê không dứt từ hàng ngàn, hàng ngàn người đi xem đứng kín dọc tất cả các con đường chung quanh Quảng trường. Trong lúc đó nhân dân trong toàn thành phố cũng đổ ra các ngả đường, ngửa mặt lên tươi cười nhìn xem: “Kìa MiG của mình” gầm vang, rạch trời bay qua, nghiêng cánh chào tất cả đồng bào yêu quý. Cuộc mít tinh và diễu binh lịch sử ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1975 của nước nhà sau bao nhiêu năm bị chia cắt và chiến tranh vô cùng ác liệt đã kết thúc, đồng thời đánh dấu sự bắt đầu mở ra một thời kì mới huy hoàng trong lịch sử của đất nước: Thời kỳ hòa bình vững vàng dựng xây Tổ quốc theo đúng những gì mà Bác Hồ đã hằng mong.