Đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo các quan điểm về đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó còn là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao thử thách và vô cùng phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

bac-ho-gia-tri-1
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu

1. Những giá trị hiện thực, bền vững của đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm tư tưởng đạo đức - một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức về vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới, yêu cầu rèn luyện đạo đức đối với mỗi cán bộ cách mạng và tấm gương thực hành đạo đức của Người kết tinh thành hệ giá trị phổ quát, có tính bền vững.

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm"Đường kách mệnh", Người đã nêu lên 23 điểm về "Tư cách một người cách mệnh", trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện tập trung trong 3 mối quan hệ: Với mình, với người và với việc. Năm 1947, Người viết: "Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang"(1).

Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"(2).

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết: "Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước"; "khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn", mới "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ"; "lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá".

Đặt lợi ích của tập thể, đất nước lên trên lợi ích cá nhân là chuẩn mực đạo đức cao nhất mà Hồ Chí Minh yêu cầu ở mỗi đảng viên, đồng thời còn là thước đo, là tiêu chí để đánh giá phẩm chất cách mạng của người cán bộ, đảng viên trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay.

Lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể hay tập đoàn và lợi ích xã hội hay dân tộc, nói rộng hơn còn là lợi ích quốc tế hay nhân loại, người ta có thể phát triển nhiều góc độ lợi ích nhưng tựu trung lại những lợi ích đó không nằm ngoài ba hình thái lợi ích nêu trên. Những lợi ích ấy gắn với mỗi con người sống trong một xã hội cụ thể, nhất định, không phân biệt người đó là ai, thuộc giai cấp hoặc đẳng cấp nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Đạo đức cách mạng là ở bất kỳ cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì, đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng, một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đạo đức cách mạng là đạo đức tập thể, nó phải đánh thắng và tiêu diệt đạo đức cá nhân"(3), có thể xem đó là một định nghĩa chung nhất về khái niệm đạo đức cách mạng. Khi bàn về tư cách của đảng viên và cán bộ, Người nói: "Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra, lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến bộ đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm"(4).

Trong Di chúc lịch sử, Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên: "Đảng ta là Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch; phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"(5). Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "Hồng", vừa "Chuyên".

Thấy rõ vị trí vai trò của đạo đức cách mạng, suốt đời Hồ Chí Minh kiên trì giáo dục cán bộ, đảng viên phải giữ gìn đạo đức cách mạng. Người cho rằng trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái "thiện" và cái "ác" hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân. Người nói: "Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu". "Trong xã hội cũng có thiện và ác". Từ quan niệm về thiện và ác; chính và tà, Hồ Chí Minh đề ra yêu cầu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức làm cho phần chính, phần thiện trong mỗi người tăng thêm, để phần tà, phần ác của mỗi người bớt dần.

Có đạo đức mới có sức mạnh hoàn thành nhiệmvụ lãnh đạo, mới nâng cao uy tín với nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, hiệu quả công việc là thước đo của đạo đức cách mạng. Nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều, làm hiệu quả, thống nhất giữa nói và làm là người có đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh khẳng định những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng của con người Việt Nam trong thời đại mới

Trung với nước, hiếu với dân

Hồ Chí Minh dùng khái niệm "Trung - Hiếu" vốn là các khái niệm đạo đức truyền thống phương Đông đã in sâu trong tâm thức người Việt Nam để nói về đạo đức cách mạng ở tầm cao hơn. Người cho rằng đạo đức của chế độ mới cao rộng hơn, không phải chỉ có hiếu với bố mẹ mà còn trung với nước, hiếu với dân.  Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, "Trung với nước, hiếu với dân" là phẩm chất hàng đầu trong toàn bộ hệ thống tư tưởng đạo đức của Người. Trong đạo đức Nho giáo, khái niệm Trung - Hiếu được dùng với nghĩa là Trung với  cá nhân một ông vua và đất nước là của nhà vua nên Trung đồng nghĩa với yêu nước và chữ Hiếu cũng chỉ trong phạm vi một gia đình. Trên cơ sở kế thừa truyền thống và phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, khắc phục và vượt qua những hạn chế không phù hợp, Hồ Chí Minh khẳng định: Trung với nước, Hiếu với dân, Người bổ sung vào khái niệm này một nội dung nữa là cách mạng, phản ánh đạo đức ngày nay không chỉ là “Trung quân ái quốc” con cháu hiếu với cha mẹ, ông bà, mà cao hơn và rộng hơn, đó là trung với nước hiếu với dân. Đây thực chất là tư tưởng yêu nước, là truyền thống đạo đức tiêu biểu của dân tộc ta đã được Hồ Chí Minh nâng lên mang nội hàm mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại và tiếp cận thế giới quan Mác - Lênin. Đây thực sự là cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. Theo Hồ Chí Minh, nước ở đây là nước của dân, dân từ địa vị bị thống trị, nay trở thành chủ nhân của đất nước. Vì thế, "Bao nhiêu quyền hạn đều của dân", "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân".

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, quan niệm về nước và dân đã khác so với trước và khái niệm yêu nước trong đạo đức mới đã trở thành tiêu chuẩn số một của đạo đức con người Việt Nam. Thực tiễn qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ cũng như công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, lòng yêu nước vẫn là mặt tiêu biểu trước tiên đối với người dân Việt Nam. Yêu nước gắn với ý chí quyết tâm chống xâm lược, gắn với yêu chủ nghĩa xã hội và gắn với ý chí quyết tâm đổi mới để chiến thắng đói nghèo, lạc hậu… Theo Hồ Chí Minh, hiếu với dân thì phải lấy dân làm gốc, phải thực hiện dân chủ, bao nhiêu quyền hạn và lợi ích đều ở dân và vì dân. Người cán bộ của Nhà nước hoạt động phải vì dân, gần dân và học hỏi dân, muốn làm được người thầy của dân phải biết làm học trò, làm người đầy tớ trung thành của dân. Không được coi thường dân, quan liêu, hách dịch, xa rời quần chúng nhân dân, lợi dụng của dân để vun vén, tư lợi cá nhân… Người dạy, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, phải "Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân" và hơn nữa, phải "tận trung với nước, tận hiếu với dân". Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước.

Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vì dân, vì nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Điều đó thể hiện trong câu nói nổi tiếng của Người: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Tình thương dân, yêu nước luôn nồng cháy trong trái tim Hồ Chí Minh. Người chỉ lo làm sao để nhân dân ta thật sự làm chủ cuộc sống của mình, được tự do, ấm no, hạnh phúc. Vì lẽ đó, lúc nào và ở đâu, Người cũng quan tâm đầy đủ đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, luôn quan tâm làm sao dân mình được nâng cao dân trí. Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ 6 nhiệm vụ cấp bách: Cứu đói; diệt dốt; Tổng tuyển cử dân chủ; giáo dục công dân về tinh thần Cần, kiệm, liêm, chính; xoá bỏ một số thuế bất hợp lý; tôn trọng tự do tín ngưỡng. Người luôn căn dặn cán bộ, nhân viên Nhà nước phải rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm, chính phải hướng vào nhân dân mà phục vụ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về yêu dân và vì dân. Với nhân dân, Người ân cần, gần gũi, tôn trọng, khiêm nhường, yêu quý, lắng nghe. Người đau nỗi đau của nhân dân, buồn vì nỗi buồn của nhân dân, chia vui cùng niềm vui của nhân dân nhưng bao giờ cũng ý thức chịu khổ trước dân, hưởng vui sướng sau dân. Người luôn nêu cao đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, Chí công vô tư; kiên quyết tẩy sạch tệ quan liêu, mệnh lệnh, thực chất đây là thứ bệnh "xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu nhân dân, không yêu thương nhân dân". Đó là những kẻ miệng thì nói "phụng sự nhân dân" nhưng làm thì trái ngược, không đem lại cho dân, thậm chí gây tác hại cho dân. Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo Cộng sản.

- Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình thương yêu với đại đa số nhân dân, những người lao động bình thường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột. Yêu thương con người phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết để phấn đấu cho đạt được mục tiêu "ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành".

- Thương yêu con người phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng cao người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm.

- Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sữa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ.

- Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người. Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là sống để thương yêu nhau hơn. Người viết: "Học chủ nghĩa Mác - Lênin là để sống với nhau có nghĩa có tình. Nếu sống với nhau không có nghĩa, có tình thì làm sao coi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được ".

Hồ Chí Minh là người giàu lòng nhân ái và luôn đặt niềm tin mãnh liệt vào tính bản thiện của con người. Từ triết lý "khuyến thiện, diệt ác", Bác Hồ đã ngăn chặn, cải tạo cái ác, và mong muốn mang đến sự tốt lành cho con người. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Người luôn tìm cách làm sao cho ít đổ máu, ít hy sinh nhất, kể cả hy sinh đó là của ta hay của địch. Người đã từng chạnh long đau xót khi nghe tin có sự thương vong, mất mát, hy sinh nhiều dù đó là người của phía bên kia.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh đến yếu tố năng động chủ quan của con người, đến sức mạnh của lý tưởng, của ý chí, của tu dưỡng đạo đức cách mạng. Vào năm 1948, trước yêu cầu nhiệm vụ hết sức khó khăn gian khổ, Bác đã gửi thư nhắc nhở nhiều cơ quan, ban ngành cần tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.

- Cần, Kiệm, Liêm, Chính, chí công vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, là mối quan hệ "với tự mình". Hồ Chí Minh quan niệm Cần, Kiệm, Liêm, Chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và  Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm.

Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỉ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta".

Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức…".Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác.

Liêm là trong sạch, là "luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân", "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân"; không tham địa vị, không tham tiền tài… không tham tâng bốc mình….".

Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, "việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh". Liêm, chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành công vụ.

Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị "tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán", đem lòng chí công, vô tư đối với người, với việc. "Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau", "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Muốn "chí công vô tư" phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân.

- Cần, Kiệm, Liêm, Chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô tư. Cần, Kiệm, Liêm, Chính sẽ dẫn đến chí công vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.

Tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là "Người Việt Nam nhất" đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.

Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau:

- Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.

 - Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung "bốn phương vô sản đều là anh em".

- Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội.

- Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

Hồ Chí Minh xác định rất rõ những nguyên tắc xây dựng đạo đức.

Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức

Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm; nhận thức phải gắn liền với hành động; tri đi đôi với hành.

- Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên… là rất quan trọng. Người yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên. Đảng viên phải làm gương trước quần chúng. Người nói: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "Cộng sản" mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước"(6).

bac-ho-gia-tri-2
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: "Cán bộ là đày tớ của nhân dân".

Hồ Chí Minh là một mẫu mực về nêu gương đạo đức. Người không chỉ nói về đạo đức mà là người thực hiện điều này một cách nghiêm túc, đầy đủ nhất, nói đi đôi với làm. Bác thường nhắc nhở: Đối với mỗi người lời nói phải đi đôi với việc làm thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng với người khác. Nếu nói nhiều làm ít, nói mà không làm, hơn nữa nói một đường, làm một nẻo thì chỉ đem lại hậu quả phản tác dụng.

Vấn đề nêu gương trong lĩnh vực đạo đức cũng được Người đưa ra không chỉ nhằm tôn vinh, động viên những tập thể, cá nhân điển hình, những hành động hay, những việc làm tốt mà còn nêu gương nhằm nhân lên, phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội.

Bền bỉ tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời thông qua thực tiễn

Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: "đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".

- Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời. Người dạy: "Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân"(7).

- Tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan hệ của mình.

Xây dựng đạo đức mới gắn liền với chống những biểu hiện phi đạo đức

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn xây dựng đạo đức mới, muốn bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cách mạng cho hàng triệu, hàng triệu triệu người, thì cùng với việc xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới. Việc xây dựng đạo đức mới trước hết phải tiến hành bằng việc giáo dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới. Trong đời sống hàng ngày cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai, đạo đức và cái vô đạo đức luôn đan xen nhau, đối chọi nhau, chính vì vậy “xây” phải đi đôi với “chống”; “chống” nhằm mục đích để “xây”; xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

- Xây dựng đạo đức mới trước hết phải tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được  cụ thể hóa sát hợp với các tầng lớp, đối tượng. Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội. Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện.

- Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn.

- Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động cuộc thi đua "ba xây, ba chống", viết sách "Người tốt, việc tốt" để tuyên truyền, giáo dục về đạo đức, lối sống.

Những nguyên tắc cơ bản rèn luyện, xây dựng đạo đức mới của Hồ Chí Minh có ý nghĩa và giá trị thực tiễn vô cùng to lớn. Nó là một thể thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, thành phương châm rèn luyện của mỗi cá nhân để trở thành người có đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh là một tấm gương thực hành đạo đức cách mạng

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo, làm theo để trở thành một người cách mạng, người cán bộ tốt trong cơ quan, người công dân tốt trong xã hội. Tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tập trung trên 5 nội dung sau:

Thứ nhất, đó là tấm gương trọn đời phấn đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và vì nhân loạiNgay từ thủa thiếu thời, Hồ Chí Minh đã xác định một cách rõ ràng mục tiêu phấn đấu cho cả cuộc đời mình là vì nước, vì dân. Trên con đường thực hiện mục tiêu đó, Người đã chấp nhận sự hi sinh, không quản gian nguy, kiên định, dũng cảm và sáng suốt vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện bằng được mục tiêu đó.

Thứ hai, là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục tiêu cách mạng. Cuộc đời Người là một chuỗi năm tháng đấu tranh vô cùng gian khổ. Vượt qua bao khó khăn, Người kiên trì mục tiêu của cuộc sống, bảo vệ chân lý, giữ vững quan điểm; khí phách, bình tĩnh, chủ động vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Người tự răn mình: “Muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần phải càng cao”.

Thứ ba, là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh có tình thương yêu bao la với tất cả mọi kiếp người. Người luôn tin ở con người, tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nguyện làm “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ tư, Hồ Chí Minh là tấm gương của một con người nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực vì con người. Với tình yêu thương bao la, Người dành tình thương yêu cho tất cả, chia sẽ với mọi người những nỗi đau. Người nói: Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi.

Thứ năm, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Hồ Chí Minh thật sự cần, kiệm, giản dị, coi khinh sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng; những phẩm chất này được biểu hiện chính trong cuộc sống hàng ngày của Người, tạo thành phong cách sống của một vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Suốt đời, Người sống trong sạch, vì dân, vì nước, vì con người, không mưu cầu chút lợi ích riêng tư nào cho mình cả.

Những đức tính cao cả ấy chung đúc lại đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên cao thượng tuyệt vời. Nhưng cũng chính từ sự kết hợp của những đức tính đó, Người là tấm gương cụ thể, gần gũi mà mọi người đều có thể học tập và làm theo.

Đạo đức Hồ Chí Minh là tài tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, dân tộc ta, mãi mãi là nguồn sáng bất tận soi rọi vào mỗi tâm hồn con người Việt Nam, hướng cho mọi người đến với chân, thiện, mỹ của cuộc sống. Học tập và làm theo đạo đức của Người có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Sẽ giúp cán bộ, đảng viên luôn luôn tự tu dưỡng, rèn luyện để trở thành những người có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống giản dị trong sáng, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích hoạt động của mình. Là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu.

2. Tổ chức học tập, giáo dục, thực hành đạo đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa tổng hợp cả về chính trị và văn hóa. Đây là nơi lưu giữ một con người đạt đến sự hoàn thiện về nhân cách văn hóa. Giá trị đạo đức Hồ Chí Minh trước hết phải được lan tỏa trong những con người hiện thực đang làm việc tại đây. Có thể nói, con người hoạt động dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của ý thức, vì thế, muốn rèn luyện phẩm chất theo hướng nhân văn cho người cán bộ, đảng viên đang làm việc tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ thuộc không nhỏ vào nhận thức của họ về vấn đề quan tâm. Trên tinh thần đó, muốn nâng cao hiệu quả học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh, trước hết phải tổ chức nghiên cứu, học tập cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về các giá trị đạo đức Hồ Chí Minh.

Việc học tập các giá trị đạo đức Hồ Chí Minh là cơ sở để cho bản thân mỗi cán bộ, đảng viên có được nhận thức đúng đắn về yêu cầu phải giữ gìn, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, tính kỷ luật, dân chủ trong tập thể, tinh thần đó phải luôn thể hiện đối với cấp dưới, với quần chúng nhân dân; luôn có ý thức trau dồi phẩm chất chính trị, tư tưởng, phải thật sự là công bộc của dân, có quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân; đồng thời, có ý thức nghiêm túc khắc phục những khuyết điểm trong phong cách làm việc và phong cách sống, làm ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như đối với người khác. Trong công việc, người cán bộ, đảng viên phải nêu gương, thể hiện rõ thái độ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp dưới, biết tự chỉ trích để tiến bộ.

Việc giáo dục về sự cần thiết, vai trò đạo đức Hồ Chí Minh là cơ sở để cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức và tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của người cán bộ cách mạng, thực sự xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ đ­ược Đảng và nhân dân giao cho.

Việc học tập để nâng cao nhận thức cho đảng viên phải được tiến hành thường xuyên, là trách nhiệm của mọi tổ chức đảng và đưa vào nội dung sinh hoạt thường kỳ của mỗi tổ chức đảng, đoàn thể và cơ quan, đơnvị.

- Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng vào việc giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên theo đạo đức Hồ Chí Minh

Thấm nhuần giá trị đạo đức của Người, để việc rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự đi vào chiều sâu, có hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng, cần phải phát huy tốt hơn vai trò của các tổ chức, các lực lượng.

Một là, đối với tổ chức đảng:

Thứ nhất, các tổ chức đảng phải khơi dậy ở họ lòng nhiệt tình, sự hăng say, nhiệt huyết cũng như tình cảm cách mạng, tinh thần vượt khó, không ngại gian khổ để cán bộ phấn đấu hết mình vì lợi ích của nhân dân, sự phát triển của đất nước, tránh những cám dỗ vật chất, mặt trái của nền kinh tế thị trường, trái với luân thường, đạo lý.

Thứ hai, cần đổi mới cơ chế, chính sách cán bộ cho phù hợp để tạo ra tính tích cực chủ động hơn, nhạy bén hơn, sáng tạo hơn trong học tập của cán bộ, đảng viên. Do vậy, cần xây dựng "Quy chế dân chủ" để cho cán bộ, đảng viên dám nói thật, phản ánh đúng thực tế đang diễn ra. Có như vậy, Đảng mới thu nhận được những ý kiến chân thực từ nhiều phía, là cơ sở đề ra những chủ trương đúng đắn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Thứ ba, không ngừng giáo dục nhân dân, nâng cao dân trí,phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, có cơ chế để cho nhân dân tham gia công tác xây dựng Đảng. Đây là giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài của công tác xây dựng Đảng, cũng như trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Do vậy, các cấp uỷ, tổ chức đảng cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia xây dựng Đảng; phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, công luận đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; có cơ chế khen thưởng những cá nhân, cơ quan báo chí đã tích cực đấu tranh, phê phán những hành động sai trái.

Thứ tư, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và việc xây dựng chuẩn mực làm người của đội ngũ cán bộ, đảng viên.Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức"(8). "Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi"(9). Vì vậy, Đảng uỷ các cấp cần có nghị quyết lãnh đạo sát đúng và thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra, giám sát. Thông qua kiểm tra, giám sát, sẽ quản lý chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa đơn vị, nhất là đi công tác nước ngoài; đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời những đảng viên vi phạm tư cách, thoái hoá biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.

Thứ năm, tăng cường hơn nữa tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước trong các tổ chức đảng và các cơ quan nhà nước. Xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, góp phần đấu tranh, phòng ngừa những hành vi vi phạm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Do đó, cần phát động một phong trào sâu rộng, liên tục trong quần chúng, bằng các phư­ơng tiện thông tin đại chúng, nêu g­ương ngư­ời tốt, việc tốt, lên án những sai lầm, khuyết điểm của những ng­ười vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà n­ước, dù họ là ai, giữ cư­ơng vị nào.

Đối với các tổ chức quần chúng:

V.I.Lênin dạy rằng: Một trong những nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất đối với Đảng là tự cắt đứt mối liên hệ với quần chúng. Thực tiễn cũng chứng minh, ở đâu tổ chức đảng gắn bó với quần chúng và vai trò của quần chúng được phát huy thì ở đó xuất hiện phong trào cách mạng của quần chúng, qua đó đội ngũ cán bộ, đảng viên được giáo dục, trưởng thành, tổ chức đảng được củng cố, kiện toàn, phát triển.

Do đó, muốn phát huy được vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia vào hoạt động giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên thì tổ chức đảng cần xây dựng được mối quan hệ thường xuyên gắn bó giữa các tổ chức quần chúng. Các chủ trương, nghị quyết của các tổ chức đảng phải phản ánh được tâm tư, nguyện vọng và lợi ích của quần chúng trong đơn vị. Tổ chức đảng phải quan tâm củng cố, kiện toàn các tổ chức quần chúng vững mạnh. Cán bộ, đảng viên phải tích cực tham gia vào sinh hoạt và hoạt động của các tổ chức quần chúng, lắng nghe tiếp thu ý kiến đóng góp của họ.

- Phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tự học tập, rèn luyện theo đạo đức Hồ Chí Minh

Điều quan trọng đầu tiên là người cán bộ, đảng viên phải đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững các quan điểm, nghị quyết của Đảng. Đó chính là căn cứ để mỗi cán bộ, đảng viên kiểm tra lại công việc, tư cách và năng lực của mình. Người cán bộ, đảng viên phải có cái tâm trong sáng, có đạo đức cao đẹp, một lòng một dạ vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập để nâng cao bản lĩnh chính trị, không ngừng tích luỹ kinh nghiệm trong thực tiễn, nói đi đôi với làm, luôn tự tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống, không ngừng hoàn thiện nhân cách người cán bộ, đảng viên, xứng đáng với vai trò là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gươngcủa cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp yêu cầu cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu. Một trong những nội dung phải gương mẫu là: Tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân. Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chủ động đối thoại với nhân dân và cán bộ dưới quyền. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân.

Quy định về trách nhiệm nêu gương cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện theo cương vị công tác của mình và báo cáo với chi bộ, cấp ủy nơi công tác để được góp ý, giúp đỡ, giám sát, tạo điều kiện thực hiện, coi đây là một trong những căn cứ để đánh giá cán bộ, đảng viên cuối năm.

Để thực hiện tốt những yêu cầu trên đây, mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày đều tự xem xét lại mình, xem cái gì đúng, cái gì sai, nguyên nhân vì đâu và suy nghĩ, tìm cách sửa chữa để làm việc tốt hơn, sống đẹp hơn. Người cán bộ, đảng viên cần khiêm tốn lắng nghe, tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí, của quần chúng, của cấp dưới từ đó chuyển thành nhận thức và hành động tự giác. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với việc rèn luyện tinh thần nhân nghĩa, lòng nhân ái của người cán bộ cách mạng. Chính phẩm chất đó là cơ sở để cho hoạt động của người cán bộ ngày càng hiệu quả, là tấm gương đối với quần chúng nhân dân, góp phần củng cố lòng tin của họ vào sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao dân chủ và kỷ luật, và chính Người là một mẫu mực về tinh thần dân chủ, tôn trọng tập thể, tôn trọng quần chúng nhân dân, luôn luôn quan tâm đến mọi người, gắn bó với nhân dân. Người luôn luôn phê phán "óc lãnh tụ", phê phán thói "quan cách mạng", phê phán những biểu hiện quan liêu, coi thường quần chúng, coi thường tập thể, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đó là những căn bệnh khác nhau của chủ nghĩa cá nhân.

bac-ho-gia-tri-3
Tọa đàm “Cán bộ, sĩ quan trẻ phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh
 Bộ đội Cụ Hồ tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Trung Hiếu

Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ cương của xã hội. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, hay ngược lại, dân chủ quá trớn, lợi dụng dân chủ để "kéo bè, kéo cánh", để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi, hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên pháp luật, làm cho nhân dân bất bình, cần phải bị lên án và loại bỏ.

Học tập đạo đức Hồ Chí Minh, tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào, phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo, đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói, nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

bac-ho-gia-tri-4
Thực hiện Nghi Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Trung Hiếu.

Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh nhằm mục đích làm cho cán bộ, đảng viên và mỗi người dân không ngừng rèn luyện để hoàn thiện về phẩm chất và nhân cách của mình, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng của thời đại mới. Việc học tập và rèn luyện đó sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để không ngừng tiến bộ và phát triển, xứng đáng với danh hiệu cao quý CON NGƯỜI và giá trị làm người.

Làm được như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên làm việc tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là những tấm gương phản chiếu giá trị đạo đức Hồ Chí Minh. Người dân đến thăm Lăng có cảm nhận và niềm tin, từ đó họ tự soi vào mình xây dựng lòng thành kính, biết ơn và cố gắng thực hành đạo đức Hồ Chí Minh. Đây chính là ý nghĩa, giá trị giáo dục to lớn, sâu xa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay./.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, NXB CTQG, Hà Nội 1995, tr 252-253

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 5, tr 252-253.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 8, tr 394.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 5, tr 251-252.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 12, tr 523.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 5, tr 253.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 12, tr 574.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.300.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.287.

 PGS,TS Phạm Ngọc Anh

Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh

và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

(Trích trong kỷ yếu Tọa đàm: “Phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”).

Tâm Trang (st)

Bài viết mới nhất:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập

35560652
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
2054
52097
302705
35560652