Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”, là nghị quyết chuyên đề về công tác xây dựng Đảng, được cụ thể hóa từ nhiệm vụ thứ nhất trong 6 nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII đã xác định. Để Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đi vào cuộc sống, cần tập trung quán triệt, nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động, đồng thời tổ chức thực hiện kiên trì, với quyết tâm chính trị cao.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch nội bộ, đề cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, coi đó là nhân tố quyết định để Đảng làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng ta đều có chỉ thị, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và được quán triệt, thực hiện nghiêm túc, thống nhất trong toàn Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng với việc xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, Đảng ta luôn xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt, vừa có ý nghĩa cấp bách, vừa cơ bản lâu dài, đồng thời là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Những kết quả đạt được về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng những năm qua là rất quan trọng, được khẳng định cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Nhờ đó, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ, chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc. Coi trọng xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; giữ vững các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Phần lớn cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tận tụy với công việc, gắn bó với quần chúng. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng lên, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Tuy nhiên, thẳng thắn và nghiêm túc đánh giá, công tác xây dựng Đảng những năm qua còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu. Nội dung sinh hoạt Đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp. Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), một số việc chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa giảm, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng. Việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc còn bị động, thiếu sắc bén, hiệu quả chưa cao…

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về xây dựng Đảng và cũng là nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên của nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng. Nghị quyết vừa cụ thể hóa 10 nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng mà Nghị quyết Đại hội XII đề ra, vừa tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) trong điều kiện mới. Điều đó chứng tỏ quyết tâm chính trị rất cao, sự nỗ lực rất lớn và tư tưởng nhất quán của Đảng về tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Để triển khai thực hiện hiệu quả, đưa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) vào cuộc sống, cần quán triệt nghiêm túc, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Việc tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết phải được thực hiện nghiêm túc ở tất cả các cấp, theo đúng nội dung, chương trình, kế hoạch đã đề ra. Thông qua đó, để mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ trì các cấp, nhằm bảo đảm cho cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là công bộc của nhân dân, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Tập trung quán triệt, nắm vững những quan điểm cơ bản về xây dựng Đảng, những nội dung trọng tâm cần triển khai, tổ chức thực hiện; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động; đề cao trách nhiệm nêu gương để chỉ đạo thực hiện nghị quyết có hiệu quả. Thực hiện tốt phương châm: Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết, kịp thời khắc phục những biểu hiện làm chiếu lệ, qua loa, đại khái, hình thức, đối phó, không thấy được giá trị thiết thực của Nghị quyết đối với công tác xây dựng Đảng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thứ hai, nhận diện đúng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. So với các nghị quyết về xây dựng Đảng trước đây, lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều đó thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật.

  Việc đưa ra hệ thống những biểu hiện suy thoái đó làm cơ sở cho mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm và hành động; tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, kiểm điểm đánh giá cá nhân, góp ý cho người khác và xử lý đối với những tập thể, cán bộ, đảng viên vi phạm. Hệ thống các biểu hiện này cũng là căn cứ để góp phần xây dựng tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Bởi vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiên cứu, nắm vững để phòng tránh và khắc phục; tránh tư tưởng cho rằng những biểu hiện đó là ở nơi khác, người khác chứ không có trong nội bộ mình, bản thân mình, dẫn đến chủ quan, giản đơn trong xem xét, đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

Thứ ba, nắm vững và thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp. Với quan điểm chỉ đạo là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện và thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề ra các nhóm giải pháp: Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội. Trong đó có một số giải pháp mới rất quan trọng, như: Đổi mới và bắt buộc học tập lý luận chính trị; cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; cơ chế kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước, công khai kết quả xử lý vi phạm; sự thống nhất về chính sách và kỷ luật giữa Đảng và Nhà nước. Đồng thời, tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu để xử lý cán bộ thuộc quyền và sự giám sát của nhân dân trong xây dựng Đảng; phát huy vai trò của báo chí, các cơ quan truyền thông; có cơ chế tạo động lực, như: Chính sách tiền lương, nhà ở… Trên cơ sở nắm vững các nhóm giải pháp đó, các cấp ủy, tổ chức đảng và các bộ chủ trì các cấp triển khai thực hiện ở cấp mình với tinh thần trách nhiệm và ý thức chính trị cao trước Đảng, trước nhân dân và vận mệnh của dân tộc.

Thứ tư, triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả. Để việc thực hiện Nghị quyết đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra, cần phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ chủ trì các cấp là nòng cốt. Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chủ yếu, “chống” là quan trọng. Đồng thời, gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thường xuyên, có hiệu quả. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình, thực hiện nghị quyết một cách nghiêm túc, tránh nói nhiều làm ít, chỉ nói mà không làm, thờ ơ, vô cảm, đứng ngoài cuộc, hoặc có tư tưởng trông chờ, phán xét người khác.

Trong giai đoạn cách mạng mới, yêu cầu về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngày càng cao. Bởi vậy, việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng có ý nghĩa quan trọng, thiết thực, góp phần làm trong sạch nội bộ, xây dựng Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, lãnh đạo hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng mới.

TS ĐỖ HỒNG LÂM

Báo Quân đội nhân dân

Đức Lâm (st)

Bài viết mới nhất:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập

thongketruycap