xay dung chinh don dang

Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

 Ảnh: dangcongsan.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người. Người liên tục đề cập vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hình thành một hệ thống các luận điểm mang tính nhất quán. Trong nhiều trường hợp, nội hàm hai khái niệm “xây dựng Đảng” và “chỉnh đốn Đảng” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa như nhau, nhất quán. Vì vậy, chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong trước giai cấp, dân tộc và nhân dân.

Ngay từ năm 1947, khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã khởi xướng vấn đề đổi mới cách lãnh đạo của Đảng cho phù hợp với điều kiện thực tế. Tại thời điểm đó, Hồ Chí Minh quyết tâm hình thành bằng được một cách thức lãnh đạo đúng với ba chuẩn mực cơ bản:

“1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”(1).

Các chuẩn mực này tạo nên một hệ thống, làm cho cách thức lãnh đạo của Đảng mang tính khoa học, khách quan, tính lô-gíc chặt chẽ, nghiêm ngặt, tránh sự tùy tiện, chủ quan, giáo điều duy ý chí.

Ngày 18-01-1949, nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ lần thứ sáu của Đảng, Hồ Chí Minh nêu lên nhiệm vụ: Phải “chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành”; phải “chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng” và “muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”, bởi lẽ, “Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng”(2). Theo Hồ Chí Minh, chỉnh đốn Đảng tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống chính trị và thể hiện rõ ràng vai trò lãnh đạo tiên phong của Đảng.

Năm 1953, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển từ giai đoạn cầm cự sang giai đoạn tổng phản công, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn lãnh đạo vững thì trước hết, cán bộ và đảng viên phải có tư tưởng và lập trường vững chắc để lãnh đạo, để xung phong làm gương mẫu cho quần chúng trong mọi việc. Vì vậy, chỉnh đốn Đảng là việc chính, cần kíp mà chúng ta phải làm ngay.

Năm 1954, sau chiến thắng “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, miền Bắc Việt Nam được giải phóng và bắt đầu bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội thật sự là một cuộc cải biến cách mạng toàn diện, sâu sắc trên mọi mặt của đời sống xã hội, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột, áp bức. Muốn thế chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp. Chúng ta phải dần dần tập thể hóa nông nghiệp. Chúng ta phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân, đối với thủ công nghiệp. Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc. Muốn lãnh đạo nhân dân ta đạt tới mục tiêu đó, Đảng ta phải thật sự vững mạnh toàn diện. Trước yêu cầu đó, Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành nhiều đợt học tập chính trị để quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng trong toàn Đảng, từ trên xuống dưới. Nhờ đó, phong trào “ba xây, ba chống” sau này được phát động sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, thật sự trở thành một cuộc vận động nhằm chỉnh đốn Đảng, củng cố đội ngũ cán bộ, đảng viên trước những nhiệm vụ cách mạng mới.

Tháng 5-1968, khi xem xét lại những điều đã viết trong bản thảo Di chúc của Người từ tháng 5-1965, Hồ Chí Minh nhận thấy “cần phải viết thêm mấy điểm”. Điểm đầu tiên, điểm quan trọng cốt lõi nhất trong mấy điểm trên ấy là “trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”(3).

Những tư liệu lịch sử trên đây cho thấy, Hồ Chí Minh bàn về chỉnh đốn Đảng không phải là khi trong Đảng có gì đột biến hay trong Đảng “có vấn đề nổi cộm” mới cần đến một giải pháp tình thế. Với Hồ Chí Minh, chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong trước giai cấp, dân tộc và nhân dân. Chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh đặt ra như một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Khi cách mạng gặp khó khăn, chỉnh đốn Đảng để cán bộ, đảng viên củng cố lập trường quan điểm, bình tĩnh, sáng suốt, không tỏ ra bị động, lúng túng, bi quan. Ngay cả khi cách mạng trên đà thắng lợi cũng cần đến chỉnh đốn Đảng để xây dựng những quan điểm, tư tưởng cách mạng khoa học, ngăn ngừa chủ quan, tự mãn, lạc quan tếu và rơi vào căn bệnh “kiêu ngạo cộng sản” - theo cách nói của V.I. Lê-nin.

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với sự tồn tại của Đảng; còn Đảng, còn hoạt động, còn cần phải tổ chức xây dựng, chỉnh đốn. Tiếp tục tâm huyết này của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội cũng nhấn mạnh: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đối với vận mệnh của chế độ và của bản thân Đảng. Tại buổi Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Đảng ta ra đời, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã nói đại ý: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công cuộc có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng, sự tồn tại và phát triển của Đảng ta, luôn luôn được xác định là cơ bản, thường xuyên, then chốt và cấp bách. Hội nghị Trung ương 10 khóa IX lại gắn chặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế, với nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - nền tảng tinh thần của xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016) lại đặt vấn đề xây dựng Đảng như một điều kiện tiên quyết làm cho công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện đi mau tới thắng lợi cuối cùng. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp Trung ương khóa XII đã ra Nghị quyết “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, xác định giải quyết các vấn đề được nêu ra phải được nhìn nhận dưới góc độ văn hóa, gắn với sự tồn vong của Đảng, vận mệnh lịch sử của toàn dân tộc, tiền đồ của đất nước.

Tính tất yếu khách quan của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh lý giải hết sức thuyết phục theo các căn cứ sau đây:

Thứ nhất, xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chế định bởi quá trình phát triển liên tục của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Đảng lãnh đạo giai cấp và nhân dân đánh đổ đế quốc, phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ mới, tạo điều kiện tiến dần lên chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo là một quá trình, bao gồm nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn; mỗi thời kỳ, giai đoạn có những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và những yêu cầu riêng. Trước diễn biến của điều kiện khách quan, bản thân Đảng phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới để vươn lên làm tròn trọng trách trước giai cấp và dân tộc. Vì thế, xây dựng, chỉnh đốn Đảng không bao hàm ý định chủ quan của Hồ Chí Minh. Sinh thời, mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn, bắt đầu triển khai thực hiện nhiệm vụ mới, Hồ Chí Minh bao giờ cũng chủ trương trước hết phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chủ trương đó của Hồ Chí Minh vừa khẳng định đúng vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa thể hiện khả năng nhạy bén làm chủ thời cuộc của người đứng đầu tổ chức đảng. Trong suy nghĩ và nhận thức của Hồ Chí Minh, Đảng ta lớn lên, trưởng thành gắn liền với sự phát triển của đất nước và dân tộc, Đảng thực sự là “một cơ thể sống” luôn tự hoàn thiện và vượt lên.

Thứ hai, đối với toàn Đảng, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: Đảng sống trong xã hội, là một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội; mỗi cán bộ, đảng viên đều chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường xã hội, các quan hệ xã hội, cả cái tốt và cái xấu, cái tích cực, tiến bộ và cái tiêu cực, lạc hậu bằng việc rèn luyện thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, thường xuyên chú ý đến việc chỉnh đốn Đảng. Khả năng tiếp nhận nguồn sinh lực tiềm tàng và “đề kháng” các căn bệnh xã hội “thẩm thấu” vào Đảng là phụ thuộc vào hiệu quả công tác xây dựng Đảng. Trong hoàn cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, trình độ sản xuất lạc hậu mà tiến dần lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải được chú ý quan tâm đặc biệt.

Thứ ba, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, đặc biệt là giữ được các phẩm chất đạo đức cách mạng tiêu biểu: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân; ra sức làm việc cho Đảng, giữ nghiêm kỷ luật Đảng, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng; đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, vì Đảng, vì dân mà hy sinh quên mình, gương mẫu trong mọi việc; ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác của mình và của đồng chí mình.

Đảng ta mặc dù có cơ sở khắp cả nước, có những cán bộ và đảng viên tận tụy, hy sinh vô cùng oanh liệt, nhưng theo Hồ Chí Minh, vì điều kiện khó khăn, mà số đông cán bộ và đảng viên chưa được huấn luyện hẳn hoi cho nên tư tưởng và trình độ chính trị còn thấp kém và lệch lạc. Điều đó tỏ rõ ra ở mỗi khuyết điểm như: Không nắm vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; không phân biệt rõ ràng bạn và địch, bệnh quan liêu, công thần, nạn tham ô hủ hóa khá nặng, và nhiều căn bệnh khác...

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, một mặt, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ, hiểu đúng và thực hành tốt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng; mặt khác, giúp cho cán bộ, đảng viên phải nhìn lại mình, phát huy mặt tốt, loại bỏ mặt xấu vốn có trong mỗi con người. Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ, đảng viên không phải là thần thánh, họ là con người. Đã là con người thì ai cũng có hai mặt tốt - xấu, thiện - ác thường xuyên đấu tranh với nhau. Trong điều kiện môi trường tốt, nếu cán bộ, đảng viên nỗ lực tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện thì mặt tốt, mặt thiện sẽ nổi lên, đẩy lùi mặt ác, mặt xấu. Từ đó, họ sẽ trở thành người tốt, làm gương cho quần chúng, có ích cho Đảng, cho cách mạng. Ngược lại, trong một môi trường xã hội không lành mạnh, đầy rẫy sự dối trá, lừa lọc, nếu cán bộ, đảng viên buông thả, thiếu ý chí phấn đấu thì mặt ác, mặt xấu sẽ nổi lên chi phối, kiềm chế mặt tốt, mặt thiện và lúc đó, họ trở thành người bị tha hóa, biến chất, có hại cho Đảng, cho dân, thậm chí trở thành tội phạm.

Vì thế, để mỗi cán bộ, đảng viên luôn giữ trọn phẩm chất tốt đẹp của mình, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vững vàng về mọi mặt trong mọi điều kiện, môi trường xã hội khác nhau thì cùng với sự tự giác rèn luyện, phấn đấu, họ còn cần đến sự giúp đỡ, kiểm soát, quản lý từ phía Đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không thể buông lỏng việc thắt chặt công tác kiểm tra, quản lý cán bộ, đảng viên. Bài học đắt giá từ việc mất mát cán bộ kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước trong các vụ án lớn, như Năm Cam, Lã Thị Kim Oanh, PMU 18, VINASHIN, Dương Chí Dũng, Huyền Như, Phạm Công Danh, Trịnh Xuân Thanh,... vừa qua càng khẳng định tính đúng đắn của các giáo huấn mà Hồ Chí Minh đã đưa ra. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng nếu không được đặt đúng vị trí, ngang tầm mà lại buông lỏng kiểm soát, quản lý thì rất dễ làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên bị thoái hóa, biến chất về đạo đức và lối sống, dẫn đến tha hóa cả về chính trị.

Trên bình diện phát triển cá nhân, xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nhu cầu tự hoàn thiện, nhu cầu tự làm trong sạch nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên.

Trong điều kiện Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng lại được Hồ Chí Minh coi là công việc càng phải tiến hành thường xuyên hơn. Bởi lẽ, với một nhãn quan đặc biệt nhạy bén về chính trị, Người đã nhìn thấy và nhận diện rõ tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng; mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị thoái hóa, biến chất, đi vào con đường tham muốn quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực; lợi dụng quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi, biến quyền lực của nhân dân thành đặc quyền của cá nhân... Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc chỉnh đốn và đổi mới để hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi và tẩy trừ mọi tệ nạn do thoái hóa, biến chất gây ra, trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền nhà nước.

Nhận thức đúng sự tác động qua lại giữa môi trường xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc điểm phát triển tâm lý, nhân cách của cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đi đến một nhận định mang tính triết lý và thực tiễn sâu sắc, có giá trị phổ quát trong vấn đề xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(4). Nhận định đó thật sự là một chân lý. Nó phản ánh đúng thực tiễn và đã được thực tiễn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới kiểm nghiệm. Nó là lời cảnh tỉnh có ý nghĩa rất sâu xa đối với đảng cộng sản cầm quyền, đối với mỗi đảng viên cộng sản, nhất là đảng viên cộng sản có chức, có quyền, giữ các vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước.

Nhìn một cách tổng quát, theo Hồ Chí Minh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng mang tính quy luật và là nhu cầu tồn tại, phát triển của bản thân Đảng, làm cho Đảng xứng đáng là một Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo sự nghiệp cách mạng to lớn của giai cấp và dân tộc - một Đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, một Đảng tiểu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Chỉnh đốn và đổi mới Đảng là nhằm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững vàng về cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao, càng phức tạp của nhiệm vụ cách mạng. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng sẽ làm cho toàn Đảng trở thành một khối thống nhất về nhận thức và tư tưởng, làm cơ sở cho sự thống nhất về hành động, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vững vàng tiến về phía trước, vượt qua những khúc quanh đầy thử thách, khắc nghiệt, cập đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân.

Hồ Chí Minh là người sáng lập, đồng thời là người giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trong gần 40 năm. Từ nhu cầu giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ giữa nhận thức lý luận và hoạt động, tổng kết thực tiễn, xác lập nên một hệ thống các quan điểm, tư tưởng về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng Cộng sản trong điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu với các đặc điểm văn hóa truyền thống phương Đông. Những quan điểm, tư tưởng đó bao gồm các vấn đề có tính quy luật có liên quan đến sự hình thành, vị trí, vai trò, bản chất của Đảng Cộng sản và những vấn đề có tính nguyên tắc liên quan tới công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, nhất là trong điều kiện Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Trong hệ thống các quan điểm đó, Hồ Chí Minh có những phát kiến đặc biệt sáng tạo, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quy luật hình thành Đảng vô sản kiểu mới trong điều kiện từng nước; quan điểm về sự thống nhất biện chứng giữa bản chất giai cấp công nhân với tính dân tộc và tính nhân dân của Đảng; quan niệm về Đảng Cộng sản cầm quyền và các yếu tố bảo đảm vai trò cầm quyền của Đảng. Những quan điểm này thật sự là sáng tạo riêng của Hồ Chí Minh, góp phần cụ thể hóa và phát triển lý luận Mác - Lê-nin về đảng cộng sản.

Trong giai đoạn cách mạng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập quốc tế hướng tới thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, dân tộc ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Vai trò lãnh đạo của Đảng càng phải được khẳng định, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng cần được nâng cao hơn bao giờ hết để ngang tầm với các yêu cầu, nhiệm vụ mà lịch sử dân tộc giao phó. Trong bối cảnh mới, Đảng ta xác định rõ nhiệm vụ xây dựng kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt gắn chặt với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng trên tất cả các mặt: Tư tưởng - lý luận, chính trị, tổ chức và cán bộ, đạo đức, làm cho Đảng thật sự trong sạch, đạt đến chiều cao về đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh chính trị, vững vàng trước mọi thử thách của lịch sử.

Chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu trong công tác xây dựng Đảng cầm quyền, nhưng bất cập, yếu kém, hạn chế cũng không phải ít, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, sự tha hóa nhân cách của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có đảng viên có chức có quyền, giữ cương vị lãnh đạo chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Những hạn chế này đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, hạn chế năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Được chiếu rọi bởi ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn về mọi mặt một cách thiết thực; xác định đổi mới và chỉnh đốn Đảng đáp ứng nhu cầu phát triển của giai cấp và dân tộc là quy luật tồn tại sống còn của Đảng, vận mệnh của dân tộc. Chính trên ý nghĩa đó, việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trong sạch, vững mạnh phải được quán triệt đến từng tổ chức cơ sở đảng, từng cán bộ, đảng viên; phải trở thành một nội dung bắt buộc trong việc quán triệt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”./.

-----------------------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 325

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 15

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 616

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672

Phạm Ngọc Anh

PGS, TS. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn http://tapchicongsan.org.vn

Trần Thanh Huyền (st)

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin