Sự thối nát của chế độ Sa hoàng và sự bóc lột của các nhà tư bản kết hợp phong kiến tại Nga đã tạo nền móng, thúc đẩy cho cuộc cách mạng đập tan ách áp bức bóc lột đè nặng lên người nông dân và công nhân Nga. Dù là một cuộc cách mạng chưa triệt để với sự ra đời của tổ chức Xô-viết và chính quyền tư sản, nhưng Cách mạng Tháng Hai là dấu ấn quan trọng trong lịch sử Liên bang Xô viết và là bước tập dượt chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Mười sau này.

ky niem cmt10 1
Cuộc sống bị bần cùng hóa của nhân dân Nga dưới thời Sa hoàng đã tạo ra hàng loạt
phong trào đấu tranh với cao trào là cuộc Cách mạng Tháng Hai lật đổ chế độ phong kiến
đã tồn tại hàng trăm năm. Ảnh: RIA Novosti.

          Một nước Nga trì trệ “một cổ hai tròng”

          Đến năm 1917, phần lớn người dân Nga đã mất niềm tin vào khả năng lãnh đạo của chế độ Sa hoàng. Nạn tham nhũng tràn lan trong chính phủ, nền kinh tế Nga vẫn lạc hậu. Sa hoàng Nicholas liên tục giải tán Duma - Quốc hội Nga được thành lập sau Cách mạng 1905, khi nó chống lại ý nguyện của ông và gia tộc.

          Chính sự bảo thủ của chế độ Sa hoàng đã tạo ra các tổ chức tư bản độc quyền nhưng vẫn mang màu sắc quý tộc, phong kiến thông qua các tước vị cha truyền, con nối. Các nhà đại tư bản kiểm soát phần lớn các ngành công nghiệp nội địa của Nga như: Dầu mỏ, than đá, luyện kim, đường sắt… Giai cấp công nhân Nga vừa bị bóc lột, vừa bị đối xử tàn tệ như những kẻ nô lệ trong hầm mỏ và nhà máy. Trong khi đó, người nông dân Nga do không chịu nổi tô, thuế, phần lớn đã bỏ ruộng đất ra các thành phố lớn kiếm việc làm. Đây là những tàn tích của chế độ phong kiến-nông nô khi phần lớn ruộng đất tại Nga nằm trong tay giới địa chủ, quý tộc và nhà thờ. Cuộc sống cực khổ đã đưa người nông dân Nga tiến tới con đường bần cùng hóa.

          Thực tế, do ảnh hưởng của chế độ phong kiến, mức độ phát triển sản xuất tư bản tại Nga chỉ tương đương một quốc gia trung bình tại châu Âu. Công nghệ lạc hậu, dựa nhiều vào sức người, năng suất thấp và phần lớn lợi tức phụ thuộc vào việc xuất khẩu các sản phẩm nguyên liệu thô sang phương Tây, nhất là Anh, Pháp và Đức. Phương Tây coi Nga vừa là nơi tiêu thụ hàng hóa, vừa là nơi cung cấp những nguyên liệu thô thiết yếu cho nền công nghiệp của họ.

          Để dập tắt các phong trào đấu tranh dân chủ trong nước, Sa hoàng và lực lượng đại tư bản đã thẳng tay bóc lột và tước bỏ mọi quyền tự do của giai cấp công nhân, nông dân. Để duy trì quyền cai trị, Sa hoàng duy trì một đội quân thường trực đông đảo cùng với lực lượng cảnh sát, hiến binh sẵn sàng đàn áp các hành động chống đối trong biển máu.

          Chính những mâu thuẫn đan xen giữa giai cấp công nhân, nông dân Nga với tầng lớp tư bản, chủ nô, Sa hoàng và sự đấu tranh vì quyền lợi giữa bản thân giai cấp tư bản Nga với giới tư bản nước ngoài đã biến nước Nga phong kiến như một ly nước đầy và chỉ cần một giọt nước sẽ làm tràn ly.

          “Giọt nước tràn ly” đó chính là sự can dự của Sa hoàng vào Thế chiến thứ nhất. Về mặt quân sự, đế quốc phong kiến Nga không sánh được với nước Đức công nghiệp hóa. Cuộc chiến kéo dài và quân đội Nga chịu nhiều thương vong hơn bất kỳ quốc gia nào phải chịu đựng trong các cuộc chiến tranh trước đó. Không chỉ thảm bại trên chiến trường, chiến tranh đã làm nền kinh tế nửa tư bản, nửa phong kiến của Nga bị hủy hoại đến vô vọng bởi các nỗ lực tìm nguồn lực duy trì chiến tranh tốn kém. Ở các thành phố lớn, việc cung cấp bánh mì, đường sữa ngày càng thất thường. Nạn đói đã xảy ra trầm trọng ở nhiều vùng nông thôn. Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân tăng lên mạnh mẽ. Đây chính là cơ hội chín muồi cho một cuộc cách mạng lật độ chế độ Sa hoàng.

          Cách mạng Tháng Hai bùng nổ và sự sụp đổ của chế độ phong kiến Sa hoàng

          Ngày 08-3-1917 (tức 23-02 theo lịch cũ Julius của Nga), kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ, chị em công nhân các nhà máy ở thủ đô Petrograd (nay là Saint Petersburg) đã xuống đường biểu tình, tuần hành. Hoạt động trên đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà máy trong thành phố và nhanh chóng biến thành làn sóng không thể kiểm soát. Hơn 128.000 công nhân, nông dân đã xuống đường đấu tranh với khẩu hiệu: “Đả đảo chiến tranh'', “Đả đảo chế độ chuyên chế”, ''Bánh mì''… Hoạt động biểu tình, tuần hành tiếp tục duy trì trong nhiều ngày sau đó và tới ngày 10-3, khi các yêu sách của công nhân không được giới chủ tư bản và chính quyền Sa hoàng đáp ứng, các cuộc biểu tình đã biến thành khởi nghĩa vũ trang. Các đám đông người biểu tình tấn công và chiếm các sở cảnh sát. Tổ chức Xô viết công nhân, binh lính được thành lập tại nhiều nhà máy. 

ky niem cmt10 2

ky niem cmt10 3
Sự đàn áp đẫm máu của Sa hoàng đối với các phong trào đấu tranh đã dẫn tới cuộc Cách mạng Tháng Hai và lịch sử nước Nga đã chính thức sang trang mới.
Ảnh: RIA Novosti.

          Tới ngày 11-3, quân đội Sa hoàng và cảnh sát được lệnh bắn vào người biểu tình. Không chùn bước, phong trào biểu tình tiếp tục lan rộng và tạo ra sự dao động trong tinh thần lực lượng quân đội Bảo hoàng. Đến ngày 12-3, người biểu tình đã chiếm thủ đô, kiểm soát các kho vũ khí. Các trung đoàn của quân đội đồn trú ở Petrograd theo nhau quay sang ủng hộ lý tưởng của những người quần chúng. Quân đội, gồm khoảng 150.000 người, sau đó đã thành lập các ủy ban để bầu đại biểu tham gia Xô viết Petrograd.

          Bộ máy công quyền Sa hoàng cơ bản tê liệt hoàn toàn. Các đơn vị khởi nghĩa vũ trang đánh chiếm các công sở, nhà ga xe lửa, trung tâm bưu điện, các nhà giam và giải phóng tù chính trị. Các bộ trưởng và tướng tá chính quyền Sa hoàng bị bắt giam. Quần chúng khởi nghĩa làm chủ tình hình ở thủ đô. Ngày 13-3, các đơn vị quân đội ở thủ đô Petrograd hạ vũ khí.

          Tin thắng lợi của phong trào khởi nghĩa tại thủ đô Petrograd nhanh chóng bay khắp nước Nga và các phong trào đấu tranh, khởi nghĩa xảy ra ở hàng loạt thành phố lớn. Ở Moscow và nhiều thành phố khác, công nhân và nhân dân lao động đã nổi dậy lật đổ chế độ Sa hoàng, thành lập các Xô viết để liên kết công nông-binh sĩ giành chính quyền.

          Chỉ trong vòng 8 ngày, cuộc Cách mạng Tháng Hai đã thành công và lật đổ hoàn toàn chế độ Sa hoàng đã tồn tại hàng thế kỷ qua. Tuy đã lật đổ chế độ cũ và giành được chính quyền, nhưng nước Nga theo chế độ cộng hòa dân chủ lại lâm vào tình trạng phức tạp mới. Quyền lực của chính quyền mới không hợp nhất, mà phân tán do các tổ chức Xô viết và chính quyền dân chủ tư sản nắm giữ.

          Ngày 14-3, Xô viết ra bản Quân lệnh số 1 nổi tiếng, trong đó chỉ đạo lục quân và hải quân Nga chỉ tuân thủ các sắc lệnh của Xô viết chứ không phải là Chính phủ lâm thời tư sản. Chính phủ lâm thời hoàn toàn bất lực trước mệnh lệnh này. Đây chính là nguy cơ mới của một cuộc cách mạng công nông không triệt để và cần thêm một cuộc cách mạng để nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới ra đời. Trong thời điểm đó, lãnh tụ của người Bolsevich, Vladimir Ilich Lenin đã vượt qua chiến tuyến Đức trở về nước Nga để lãnh đạo phong trào cách mạng Nga với đỉnh điểm là Cuộc khởi nghĩa Tháng Mười.

         

Tại sao Cách mạng Tháng Mười lại được ghi là ngày 07-11?

          Cách mạng Tháng Mười tại Nga thực tế diễn ra trong tháng 11 theo Tây lịch, là do Chính quyền Sa hoàng Nga sử dụng lịch Julius có nhiều sai lệch so với lịch Gregorius hay Tây lịch được phần lớn thế giới áp dụng tới tận ngày nay.

          Lịch Julius được Hoàng đế La mã Julius Caesar công bố vào năm 46 trước công nguyên và có hiệu lực trên lãnh thổ La mã sau đó một năm sau đó. Theo lịch Julius, một năm thường có 365 ngày được chia thành 12 tháng và ngày nhuận được thêm vào tháng Hai sau mỗi 4 năm. Như vậy, mỗi năm theo lịch Julius trung bình dài 365,25 ngày. Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra với lịch Julius là có quá nhiều ngày nhuận được thêm vào để phù hợp với các mùa thiên văn. Trung bình, các điểm phân và điểm chí diễn ra sớm hơn khoảng 11 phút trên năm so với lịch Julius, làm cho lịch này có thêm một ngày dư ra sau mỗi 134 năm. Vì sự không chính xác này, năm 1582, lịch Julius được thay thế bằng Tây lịch chính xác hơn.

          Tuy nhiên, lịch Julius vẫn được một số quốc gia theo Chính thống giáo, trong đó có nước Nga, sử dụng cho tới đầu thế kỷ 20. Điều này cũng giải thích cho việc Cách mạng Tháng Mười diễn ra vào ngày 07/11/1917 theo Tây lịch, nhưng theo lịch Julius lại là ngày 25/10.

 

 

          

TUẤN SƠN (tổng hợp)

Theo Báo QĐND

Trần Duy Hưng (st)

Bài viết mới nhất:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập

thongketruycap