giu vung tu tuong
Ảnh minh họa. Ảnh:tapchiqptd.vn

Để đấu tranh với những âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, giữ vững tư tưởng chính trị là yếu tố quan trọng hàng đầu cần được xác lập một cách thực sự vững vàng trong từng chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chính trị là nghệ thuật hay khoa học vận hành. Chính trị là vấn đề giành, giữ chính quyền và xây dựng xã hội. Tư tưởng chính trị được bàn ở đây là tư tưởng về vấn đề chính trị mà Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Lập trường chính trị này được C. Mác và Ph. Ăng-ghen trên cơ sở sự vận hành và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong hiện thực lịch sử nhân loại mà xây dựng nên. Đó là học thuyết vĩ đại của xã hội loài người, học thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa cộng sản mà C. Mác và Ph. Ăng-ghen chủ trương xây dựng chính là xã hội mà ở đó, mọi người sẽ có cuộc sống tự do, hạnh phúc, con người được giải phóng một cách triệt để và được phát triển toàn diện. Đó cũng chính là tư tưởng chính trị then chốt, là yếu tố quan trọng hàng đầu cần được xác lập một cách thực sự vững vàng trong từng chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng chính trị là nhân tố hàng đầu tạo sự đồng thuận xã hội. Vì thế, các thế lực thù địch coi tư tưởng chính trị là mũi đột phá, là “cái cầu để dẫn vào trận địa”, đồng thời cũng là mặt trận trung tâm cần tập trung chống, phá. Theo đó, dưới những chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “vấn đề dân tộc”, “vấn đề tôn giáo”, “vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”… chúng thường rêu rao nhắm tới phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng làm cho chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Những vấn đề trong tư tưởng chính trị mà các thế lực phản động tập trung chống phá ta trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng làm tan rã niềm tin chính trị, tiến tới làm cho xã hội hỗn loạn về chính trị, tư tưởng, mất định hướng chính trị, tạo ra thế đứng cho các lực lượng phản động trong nước, gây áp lực chính trị của quần chúng. Do vậy, chúng ta cần nêu cảnh giác trước những âm mưu “diễn biến hòa bình”.

  1. Phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Các thế lực phản động vẫn ra rả đòi Đảng ta, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn vì chúng cho rằng, đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”. Chúng ra sức lợi dụng sự kiện chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết ở Liên xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cho rằng chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, Đảng Cộng sản đã hết vai trò lịch sử; rằng nước ta kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, là đi vào vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu. Chúng cố tình xuyên tạc: “Chủ nghĩa xã hội mà C. Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”; không bao giờ thực hiện được”(1). Hơn thế, chúng còn “chỉ dạy” Đảng ta cần phải đi theo con đường khác, theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”… Những luận điệu đó được nhắc đi, nhắc lại với cách lèo lái khác nhau, khi trắng trợn, lúc tinh vi, khi rầm rộ, lúc lặng lẽ, âm thầm, lúc thì mượn mồm của những người biến chất, “trở cờ”, “sám hối”, khi thì thô lỗ nhân danh, khoác áo những nhà chính trị sặc mùi tư sản phản động khẳng định sự “ưu việt” của xã hội tư bản.

Khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, chúng tuyên truyền kích động, phủ nhận chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho rằng kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội như lửa với nước, không thể đồng hành, phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa đất đai… Tuy giọng điệu, cung bậc khác nhau, song chung một kiểu “mưa dầm thấm lâu”, được tung lên không gian mạng, trên internet dội vào nước ta hòng làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Vì vậy, hơn lúc nào hết đòi hỏi mỗi công dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội - con đường đúng đắn mà chính lịch sử dân tộc và toàn thể nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đồng thuận lựa chọn từ những năm 20, 30 của thế kỷ trước.

Sự thay thế của hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa đối với hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là sự tiếp nối tất yếu trong dòng chảy phát triển của sự thay thế chế độ xã hội tiến bộ hơn đối với chế độ xã hội lỗi thời, lạc hậu. Vấn đề này đã được khẳng định bằng chính quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến hoàn thiện, từ chế độ công xã nguyên thủy đến cộng sản chủ nghĩa. Đó là quy luật của sự phát triển. Nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng đã chỉ ra rằng, xét đến cùng, xã hội sau muốn chiến thắng xã hội trước, trước hết phải bằng năng suất lao động của nó. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp. Nay chúng ta đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong thực tế năng suất lao động (tức là trình độ của lực lượng sản xuất) còn thấp hơn nhiều nước tư bản chủ nghĩa, nhất là các nước tư bản phát triển. Vậy khi nào có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Điều đó tùy thuộc vào sự đồng thuận, dốc sức, dốc lòng của toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển cùng với quan hệ sản xuất ngày càng ưu việt mà chúng ta đang quyết tâm triển khai đồng bộ. Thực tiễn suốt tiến trình cách mạng Việt Nam 88 năm qua dưới ngọn cờ của Đảng đã và đang minh chứng cho sự lựa chọn con đường đúng đắn này và cho sự thắng lợi của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(2) và thời đại, thể hiện rõ khát vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam: Dân tộc độc lập, nhân dân sống trong hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc.

  1. Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Chúng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, hoặc chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp của thế kỷ XX, còn hiện nay, khi bước sang thế kỷ XXI, thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, chủ nghĩa C. Mác đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua. Từ đó, chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phù hợp với Việt Nam, hoặc chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sản phẩm ngoại nhập của phương Tây, không thích hợp với các nước kinh tế lạc hậu như Việt Nam. Việc du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, xa lạ với truyền thống dân tộc.

Xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người, “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”… chính là chúng muốn phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ định sự vận dụng sáng tạo tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện của Việt Nam. Chúng muốn đánh sập nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do C. Mác và Ph. Ăng-ghen xây dựng, V. I. Lê-nin bảo vệ và phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, phát triển trong điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, kinh tế chính trị Mác - Lê-nin, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giới quan, phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác - Lê-nin, chủ nghĩa xã hội khoa học vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc các vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin (như học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, thời đại ngày nay và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, giai cấp và đấu tranh giai cấp, học thuyết giá trị thặng dư)... Đồng thời tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật công cuộc đổi mới ở Việt Nam nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; phát tán tài liệu, ấn phẩm xuyên tạc cuộc đời hoạt động và tấm gương đạo đức của Người là logic tất yếu của các thế lực phản động, kẻ xấu thuộc về thế lực có tư tưởng chính trị đối lập với tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa. Giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tất yếu giương cao ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Vì thế, muốn xây dựng một xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì chỉ có thể đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm cốt lõi. Bảo vệ sự trong sáng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

  1. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Các thế lực phản động đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng luận điệu: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Chúng “lập luận” rằng: Do “vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam” nên “song song với những công trạng họ lập được, Đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên hậu quả thảm khốc cho cả nước”; “Đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ có khả năng quản trị đất nước”, “thể chế độc đảng toàn trị” nên “xã hội không có tự do, dân chủ”… Chúng lấy quan điểm “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để đồng nhất dân chủ với đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; Nhà nước pháp quyền với thiết chế tam quyền phân lập; nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá nhân rồi vu cáo Đảng ta là “độc tài, độc đoán, mất dân chủ”! Chúng lý sự rằng, “chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là trái với nguyên tắc Nhà nước pháp quyền”, “việc Đảng nắm quyền lãnh đạo đất nước là hành vi tiếm quyền, chiếm đoạt thành quả của nhân dân”, “đã đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam nên chấp nhận đối lập”... Cùng với đó, ở trong nước, một số kẻ nhân danh “tâm nguyện vì nước, vì dân” đưa yêu cầu (thực chất là yêu sách) đòi Đảng Cộng sản Việt Nam “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, phải “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”… Và cuối cùng chúng khẳng định rằng, Đảng “không được sự ủng hộ của nhân dân”… nên Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo đất nước.

Rõ ràng, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào đi chăng nữa, bản chất và mục đích thật sự của những luận điệu đó đều phục vụ âm mưu của các thế lực phản động, cơ hội chính trị nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”.

Về phương diện lý luận, vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Nghiên cứu lịch sử đương đại, C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ ra rằng, trong các xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽ trở thành giai cấp thống trị và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Kế thừa những di sản tư tưởng chính trị cơ bản đó trong điều kiện mới, V. I. Lê-nin đã phát triển và có những luận điểm sâu sắc về vấn đề cầm quyền của Đảng Cộng sản, trong đó khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công. Nguyễn Ái Quốc khi đi tìm lời giải cho bài toán cách mạng Việt Nam đã khẳng định: Cách mệnh trước hết phải có đảng cách mệnh. Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyệt đối khẳng định sự cần thiết và vai trò tiên quyết của nhân tố Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền.

Về phương diện thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức và hoạt động chặt chẽ theo tư tưởng, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong hơn 30 năm qua đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Buông lỏng hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là phạm sai lầm từ nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của nhà nước và hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội nổi dậy “cướp chính quyền”. Vấn đề cơ bản, quan trọng lúc này là phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, bảo vệ Đảng, để Đảng luôn có đủ uy tín chính trị và khả năng hoàn thành nhiệm vụ do lịch sử giao phó.

Đại hội XII của Đảng đã xác định cụ thể: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó vừa là sự kiên định lập trường chính trị đúng đắn, vừa biện chứng khách quan khoa học tư tưởng chính trị của chúng ta hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân trong xã hội có sự giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì không chỉ mỗi người mà toàn xã hội sẽ có tư tưởng chính trị vững vàng, tự ý thức trong việc nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng ngoại lai đi ngược lý tưởng xã hội, vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đại hội XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả”. Đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng chính trị. Do vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng trước hết phải gắn với việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị.

Lập trường chính trị của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta mà chủ thể là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Chủ thể xây dựng và thụ hưởng thành quả của nó là nhân dân, chứ nhất thiết không thuộc về một nhóm xã hội nào khác./.

PGS, TS. Đoàn Thế Hanh
Theo Tạp chí Cộng sản
Đức Lâm (st)

-------------------

(1) Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 48

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 70

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập

40914380
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
2045
40884
228959
40914380