Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến tôn giáo, trong đó Người đã để lại hệ thống tư tưởng có giá trị sâu sắc về Phật giáo. 77 năm qua, kể từ khi Người ký Sắc lệnh thành lập Hội Phật giáo Việt Nam, đến nay, những quan điểm của Người về Phật giáo vẫn vẹn nguyên giá trị.

doan ket phat giao 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với các đại biểu tôn giáo trong Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1960 (Ảnh: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III)

1. Đề cao vai trò của Phật giáo và thành lập Hội Phật giáo Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo trước hết là lòng vị tha, cứu khổ, cứu nạn, đề cao tình yêu thương con người và tìm ra con đường mang lại hạnh phúc, ấm no cho con người, bình an cho xã hội. Người luôn đánh giá cao vai trò của đồng bào Phật tử đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và coi Tăng, Ni, tín đồ Phật tử là một lực lượng không thể đứng ngoài hay ngồi yên nhìn đất nước bị diệt vong mà là một trong những lực lượng quan trọng góp sức trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Với giác quan chính trị nhạy bén và sự mẫn cảm kiệt xuất, Hồ Chí Minh thấy rõ Phật giáo là một điểm tựa vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người. Người nhấn mạnh: “… Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, Tăng, Ni và Phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Từ bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc”[1]. Tôn chỉ, mục đích của Đạo Phật là xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm được Hồ Chí Minh nâng lên thành truyền thống yêu nước, nhân văn của dân tộc và động viên đồng bào Phật tử về lòng yêu thương con người, quên mình vì mọi người, mình vì người khác… để xây dựng đất nước.

Do đó, ngày 15-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Hội Phật giáo Việt Nam, đặt trụ sở tại 73 phố Quán Sứ, Hà Nội. Người cũng đánh giá cao những đóng góp của Tăng, Ni và đồng bào Phật tử cả nước đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong bức thư “Gửi Hội Phật tử Việt Nam” (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận những cống hiến của Phật giáo: “Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều. Tôi cảm ơn đồng bào và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi, cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất, độc lập thành công”[2]. Đồng thời, Người khẳng định những đóng góp của Tăng, Ni và Phật tử trong cuộc kháng chiến và kiến quốc, mong đồng bào cố gắng cho đến ngày kháng chiến thắng lợi, nước nhà độc lập. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người ta xây một ngôi chùa. Nhân công làm chùa toàn là người nhà pha, do một thân hào hướng dẫn. Sổ chấm công thợ hằng ngày ghi rõ ràng đều đặn và thầu khoán cũng trả tiền sòng phẳng. Thế nhưng tiền thì lại chính quan lớn Công sứ bỏ túi”[3]. Khi “thực dân Pháp muốn cướp nước ta. Chúng đốt chùa chiền, phá tượng Phật, hành hạ tăng, ni, tàn sát đạo hữu. Chúng hòng phá tan đạo Phật”2. Do đó, Hồ Chí Minh chủ trương phải “kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ, đại bi của đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ3 và Người đã thề trước Phật đài tôn nghiêm và toàn thể quốc dân đồng bào nguyện hy sinh thân mình để giữ vững nền độc lập của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đế quốc Mỹ thi hành những chính sách cấm đoán, bóp nghẹt tôn giáo, làm cho đồng bào Phật giáo vô cùng căm phẫn. Để phản đối việc chính quyền Ngô Đình Diệm cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Lễ Phật đản năm 1963, ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn với hạnh nguyện: “Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác. Tro trắng phẳng san hố bất bình”. Trước sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức cảm động và có câu đối kính viếng Hòa thượng: “Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt. Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà”[4]. Ngày 28-8-1963, Hồ Chí Minh lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Tăng, Ni, Phật tử. Người viết: Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố Sư sãi và đồng bào theo Đạo Phật… Tội ác của chúng, Nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, Nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình… Trước tình hình ấy, đồng bào miền Nam ta đã đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ, nông, công, thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng và cảm ơn Nhân dân thế giới đã ủng hộ cuộc đấu tranh của Tăng Ni, Phật tử miền Nam chống chế độ bạo quyền Ngô Đình Diệm: “Thay mặt Nhân dân Việt Nam, Tôi chân thành cảm ơn Nhân dân và Chính phủ các nước Phật giáo, các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em, cảm ơn Nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn Nhân dân và nhân sĩ tiến bộ nước Mỹ đã nghiêm khắc lên án Mỹ – Diệm và nhiệt tình ủng hộ Nhân dân miền Nam”[5]. Trong “Thư gửi Hội nghị Đại biểu Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam” ngày 28-9-1964, Người nhấn mạnh: Các vị Tăng, Ni và tín đồ Phật giáo trước đây đã có công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu mạnh và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dịp này, Tôi thân ái gửi lời chúc mừng Hội nghị thành công tốt đẹp. Nhân đây, chúng ta tỏ lòng đoàn kết với đồng bào Phật giáo ở miền Nam đang hăng hái tham gia cuộc đấu tranh yêu nước và chống đế quốc Mỹ xâm lăng. Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam, đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy là: “Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”. Chúc toàn thể Tăng, Ni và đồng bào Phật giáo góp phần xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[6].

2. Mong muốn Phật giáo đoàn kết, phát triển, đồng hành cùng dân tộc

Đạo Phật nổi tiếng với tư tưởng “Lục hòa” (sáu pháp hòa hợp và khi du nhập vào nước ta đã nhanh chóng bám rễ sâu vào đời sống Nhân dân vì nó phù hợp với truyền thống đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh phát huy cao độ tư tưởng “Lục hòa” của đạo Phật, nên luôn động viên, khích lệ đồng bào Phật tử tinh thần hướng thiện, đoàn kết trong nội bộ và đoàn kết với các tôn giáo khác. Do đó, ngày 19-5-1941, khi thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) để tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và tôn giáo yêu nước, thành một lực lượng cách mạng hùng mạnh để chống kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam lúc ấy là thực dân Pháp và phát xít Nhật, trong đó có Hội Phật giáo Cứu quốc. Trước hành động “đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật” của chính quyền Ngô Đình Diệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Tăng, Ni và các tín đồ Phật tử: “Đã đoàn kết thì càng đoàn kết hơn để góp phần xây dựng hoà bình chóng thắng lợi. Hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ - Diệm và bọn tay sai lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước”[7]. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh nêu rõ: Nước Phật ngày xưa có những 4 đảng phái làm ly tán lòng dân và hại Tổ quốc. Nhưng nước Việt Nam ngày nay chỉ có 1 đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng và “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái… Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi… Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa. Do đó, Hồ Chí Minh kêu gọi Phật giáo cần tăng cường đoàn kết với các tôn giáo khác để đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đến thành công. Vì muốn “cách mạng giành thắng lợi thì người giàu, người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo, đều hợp sức đoàn kết”[8]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết nội bộ Phật giáo và giữa Phật giáo với các tôn giáo khác góp phần quan trọng trong việc củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy được sức mạnh tổng lực của toàn dân tộc, đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công.

Phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo, Đảng, Chính phủ dành sự quan tâm sâu sắc đến các hoạt động Phật sự như tạo điều kiện để xây dựng các tổ chức Phật giáo trên toàn quốc phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó, đáng chú ý là Hội Phật giáo cứu quốc Nam Bộ (1946), Hội Tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt (1949), Hội Sơn môn Tăng già Trung Việt (1949), sau thống nhất thành Tổng Liên hội Phật giáo Việt Nam... Sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, Tổ quốc được thống nhất đã tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành công cuộc thống nhất các tổ chức Phật giáo. Đặc biệt, năm 1981, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Thông tri số 136/TT-TW Về chủ trương thống nhất các tổ chức Phật giáo để thành lập tổ chức Phật giáo chung cả nước…Do đó, ngày 04-11-1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời trên cơ sở thống nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo trên toàn quốc và trở thành tổ chức đại diện cho Phật giáo Việt Nam về mọi mặt quan hệ trong, ngoài nước được kết tinh trong phương châm hành đạo “Đạo Pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Đây là sự kiện trọng đại khẳng định truyền thống đoàn kết dân tộc nói chung, Phật giáo nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Với truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam, hơn 40 năm qua, tăng ni, Phật tử giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, hòa hợp, xây dựng, phát triển Giáo hội vững mạnh trong hội nhập quốc tế; vững vàng kiên định trên con đường phụng sự theo lý tưởng, đạo pháp dân tộc, chủ nghĩa xã hội; phát huy tinh thần yêu nước, tích cực xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, lợi dân, ích đạo, lợi đời, chung tay cùng đồng bào và nhân dân cả nước.

*****

Mùa Vu lan báo hiếu Phật lịch 2567, năm 2023, chúng ta luôn ghi nhớ những lời căn dặn của Bác Hồ về Phật giáo, góp phần đưa Phật giáo thấm đượm sâu hơn vào đời sống xã hội, phát huy tinh thần đoàn kết, từ bi, bác ái, cùng dựng xây đất nước giàu mạnh, văn minh, hùng cường./.

[1] Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo, Nxb tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr 167.

[2] Hồ Chí Minh: Về Mặt trận dân tộc thống nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.39-50.

[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tập.2, tr.85.

[4] Báo Sài Gòn Giải phóng, ngày 30-5-2005.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tập.12, tr.744.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tập.14, tr.383.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tập.10, tr.473.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tập.1, tr.56.

TS Vũ Trọng Hùng- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Theo Hochiminh.vn

Thanh Huyền (st)

Bài viết khác:

THÔNG BÁO TỔ CHỨC LỄ VIẾNG

 THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. 

Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

105317271
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
11898
255653
1215564
105317271