Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Người gắn liền với lịch sử quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào sử sách và sống mãi với muôn đời sau.

Trước khi đi gặp “cụ Các Mác, cụ Lênin”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một bản Di chúc thiêng liêng, vô cùng quý giá. Di chúc của Người là một tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, được viết trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1969, với sự công phu, nghiêm túc và trách nhiệm cao nhất đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân.

Ngược lại dòng lịch sử, vào tháng 5/1965, ở tuổi 75, tuổi thuộc lớp người “xưa nay hiếm”, nhưng tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khoẻ mạnh, trí tuệ vẫn minh mẫn; nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã linh cảm và nhìn thấy trước mọi điều có thể xảy ra, để “đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”.  Người đã chọn và đặt bút viết bản Di chúc vào hồi 9 giờ sáng ngày 10/5/1965. Các ngày tiếp theo: 11, 12, 13, 14 tháng 5, mỗi ngày Người đều dành từ một đến hai giờ để viết bản thảo và đến ngày 15/5/1969, bản thảo Di chúc đầu tiên đã hoàn thành, gồm 3 trang do chính tay Người đánh máy, ở cuối đề ngày 19/5/1965. Trong các năm 1966, 1967, Người không có những bản viết riêng. Song, vào dịp tháng 4, tháng 5 hằng năm, vào dịp sinh nhật, Người đều đem bản Di chúc đã viết từ năm 1965 đọc lại, suy ngẫm nhưng không viết gì thêm. Đến năm 1968, Người viết bổ sung thêm một số đoạn, tất cả gồm 6 trang viết tay. Lần này, Người viết lại đoạn mở đầu và đoạn nói về việc riêng đã viết trong bản thảo Di chúc năm 1965. Đồng thời, Người viết thêm một số đoạn, nội dung của các đoạn viết mới đề cập đến những công việc sau khi nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, chủ yếu xoay quanh các công việc như xây dựng, chỉnh đốn lại Đảng; thực hiện miễn thuế nông nghiệp cho nhân dân; đặc biệt là giải quyết các chính sách cho các gia đình thương binh, liệt sỹ; xây dựng, kiến thiết thành phố, làng mạc; khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa; chăm lo củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước. Trong lần viết này, Người viết rồi lại gạch chéo đoạn nói về chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc thương binh. Ở một số đoạn khác, Người gạch dọc ở bên trái, ngoài lề, đó là đoạn nói về xây dựng lại đất nước, phát triển kinh tế, thực hiện thống nhất đất nước, Nam - Bắc sum họp một nhà.

Đến ngày 10/5/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lại toàn bộ phần mở đầu bản Di chúc, khoảng một trang viết tay. Sau khi Người qua đời, Hội nghị bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp chiều ngày 03/9/1969 đã giao cho Bộ Chính trị chịu trách nhiệm công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Di chúc được công bố chính thức chủ yếu dựa theo bản Di chúc Người viết năm 1965, trong đó có một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng Người viết năm 1969. Kết cấu của bản Di chúc đã công bố chính thức như sau: Đoạn mở đầu lấy nguyên văn toàn bộ đoạn mở đầu Người viết năm 1969, thay cho đoạn mở đầu Người viết năm 1965. Phần giữa, từ đoạn nói về Đảng đến hết đoạn nói về phong trào cộng sản thế giới là nguyên văn bản gốc Người viết năm 1965. Như vậy, bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng công bố năm 1969, ngay sau khi Người qua đời, về cơ bản là giữ lại và lấy nguyên văn bản gốc. Việc chọn bản Di chúc Người viết năm 1965 để công bố chính thức là hoàn toàn đúng đắn, vì đây là bản duy nhất được Người viết hoàn chỉnh, có chữ ký của Người và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI khẳng định bản Di chúc đã công bố bảo đảm tuyệt đối trung thành với bản gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh  và nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1990), Bộ Chính trị đã ra Thông báo số 151, ngày 19/8/1989, quyết định công bố toàn bộ các bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thông báo, Bộ Chính trị cũng nêu rõ: “Sở dĩ trước đây chưa công bố đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về yêu cầu hỏa táng là thể theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện tới thăm viếng, thể hiện tình cảm sâu đậm với Bác. Điều này đã xin phép Bác nên được làm khác với lời Bác dặn". Việc chưa công bố một số đoạn viết thêm năm 1968 về những việc cần làm sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) giải thích: Năm 1969, khi Bác qua đời, cuộc kháng chiến còn gay go, ác liệt, Việt Nam chưa giành được thắng lợi cuối cùng, nên việc công bố lúc bấy giờ là chưa thích hợp. Mặt khác, một số câu Bác viết rồi lại xoá, như đang cân nhắc, chưa xong hẳn, chưa nói rõ ý như thế nào. Khi Bác mất, cuộc kháng chiến còn khó khăn và ác liệt, vì vậy, Bộ Chính trị đã quyết định sửa mấy chữ trong câu "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa" thành "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài". Việc miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã chưa có điều kiện thực hiện. Năm 1989 tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam còn nhiều khó khăn, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) thấy cần có kế hoạch thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên đã giao Hội đồng Bộ trưởng trình Quốc hội thực hiện vào thời điểm thích hợp.

Về ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người mất vào 9 giờ 47 phút ngày 02/9/1969, trùng với ngày Quốc khánh của đất nước. Vì vậy, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã quyết định công bố ngày 03/9/1969 là ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. "Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI cho rằng nay cần công bố lại đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời".

Như vậy, nội dung các bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Bộ Chính trị khóa VI công bố hoàn toàn khách quan, chính xác và phù hợp với tâm nguyện của triệu triệu người dân. Sau khi Người qua đời, bản Di chúc được công bố đã gây xúc động sâu sắc đối với toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Bản Di chúc đã phản ánh khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của dân tộc Việt Nam anh hùng, đồng thời phản ánh tâm hồn, đạo đức cao thượng, trong sáng và đẹp đẽ của một con người vĩ đại, trọn đời phấn đấu, hy sinh phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong Di chúc, mỗi câu, mỗi chữ Người viết đều thấm đượm tình yêu thương con người, son sắt tấm lòng thuỷ chung với đồng bào, đồng chí và dân tộc. Lúc còn sống, trọn cuộc đời của Người lo cho dân, cho nước; trước lúc đi xa, Người để lại “Muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”… Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Người luôn tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng. Cội nguồn của lòng tin đó chính là sự tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh của con người, sức mạnh của nhân dân. Ngay trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đang rất gian khổ, khó khăn, Người vẫn khẳng định chắc chắn sẽ thắng lợi hoàn toàn. Người tin tưởng rằng, với sức mạnh của con người Việt Nam được tổ chức, đoàn kết lại, cách mạng nước ta sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn. “Còn non, còn nước, còn người. Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Từ tình thương đối với con người, tin tưởng vào sức mạnh con người Việt Nam, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến chính sách xã hội đối với mọi tầng lớp nhân dân, trong đó đặc biệt là chính sách đào tạo, bồi dưỡng con người, nhất là đối với thanh niên. Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đồng thời, Người khẳng định: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Trong đó Người đặc biệt coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Xuất phát từ tình yêu thương con người rộng lớn, Người đòi hỏi trong Đảng “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đoàn kết là một nhân tố tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, “trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Chủ tịch hồ Chí Minh yêu cầu: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Với triết lý nhân văn suốt đời phục vụ nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng con người, Người đòi hỏi “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Như vậy, trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân cách của người cán bộ, đảng viên được đặc biệt coi trọng. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Theo ý tôi, việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Đó cũng là một biểu tượng của tư tưởng nhân văn sâu sắc. Một xã hội lấy con người làm trung tâm, là giá trị cao nhất, đòi hỏi nhân cách người cộng sản phải là biểu tượng sáng ngời nhất, tiêu biểu nhất trong xã hội.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện trong suốt 50 năm qua, đem lại những thắng lợi to lớn cho sự nghiệp cách mạng. Tuy vậy, bên cạnh những thắng lợi toàn diện và thành tựu to lớn về quan tâm xây dựng con người, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, chúng ta cũng cần thẳng thắn tạ lỗi với Người về việc chưa thực hiện trọn vẹn những lời căn dặn của Người trong Di chúc. Đây cũng sẽ là một nội dung quan trọng được Đảng ta tự phê bình và phê bình trong công tác xây dựng Đảng tại Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới của Đảng và đất nước, trong đó chú trọng tới việc đặt con người ở vị trí trung tâm, vì sự nghiệp giải phóng con người; thấm đượm tình yêu thương đồng chí, đồng bào, nhất định cách mạng nước ta sẽ tiếp tục giành được thắng lợi to lớn hơn nữa./.

Trung tướng, PGS, TS. Đặng Nam Điền

 Nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo

1. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, H.1990.
2. Thông báo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI, Nxb Sự thật, H.1990.
3. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - giá trị lịch sử và hiện thực, Nxb Quân đội nhân dân, H.2009.

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

47553035
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
4887
35355
356370
47553035