Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân cách mạng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh thành lập, giáo dục và rèn luyện. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn xác định mục tiêu, phương hướng xây dựng Quân đội đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Đây là chủ trương nhất quán, đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, là cơ sở để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ được giao.

Nhờ chủ trương xây dựng Quân đội đúng đắn, những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu, vượt qua khó khăn, nguy hiểm, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm chiến đấu, hy sinh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và trong thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu thời bình” hiện nay. Bởi vậy, trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, song Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, nhất là cơ quan tham mưu chiến lược làm tốt công tác nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý linh hoạt, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, chỉ đạo tổng kết thực tiễn, xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện đồng bộ Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Biên phòng Việt Nam và nhiều nghị quyết, kết luận, văn bản pháp luật về quân sự, quốc phòng, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận, hoàn thiện đường lối, chính sách quốc phòng, nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ các cấp được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc. Thế bố trí chiến lược được quy hoạch, điều chỉnh phù hợp với Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội. Từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống công trình phòng thủ, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, hệ thống phòng thủ đảm bảo cho tác chiến, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa. Phát huy hiệu quả các khu kinh tế - quốc phòng ở địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn dọc biên giới đất liền, trên biển và hải đảo; thực hiện tốt vai trò xung kích, nòng cốt, kịp thời có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy, thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn,… góp phần gìn giữ, phát huy giá trị cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Quán triệt Kết luận số 16-KL/TW và Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị, những năm gần đây, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, có sức cơ động cao, bước đầu đạt được kết quả quan trọng. Từ năm 2016 đến nay, toàn quân đã điều chỉnh được hơn 800 tổ chức, quyết liệt giảm 10% quân số ở cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, ưu tiên quân số cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đầu tư thích đáng cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo có nhiều đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu ở các cấp, bảo đảm an toàn khu vực đóng quân và sẵn sàng xử lý các tình huống về quân sự, quốc phòng. Công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác có bước phát triển mới. Đặc biệt, Quân đội đã nghiên cứu, làm chủ hầu hết vũ khí, trang bị, nhất là vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai tích cực, chủ động, linh hoạt, thực chất và hiệu quả; trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

XDQD cach mang chinh quy
Thượng tướng Phan Văn Giang trình bày chuyên đề: “Những nhận thức mới và tư duy mới về quốc phòng Việt Nam” tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ảnh: TTXVN

Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng các mâu thuẫn cơ bản của thời đại tiếp tục tồn tại và phát triển; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền, xung đột dân tộc, sắc tộc,... diễn ra với nhiều hình thức, quy mô, phức tạp, quyết liệt hơn cùng với sự xuất hiện của nhiều loại hình chiến tranh mới. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và sẵn sàng can dự, chi phối vào nội bộ nước khác. Các yếu tố an ninh truyền thống, phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh,… tiếp tục diễn biến theo chiều hướng phức tạp hơn. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn vẫn tiếp tục diễn ra quyết liệt; tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo diễn biến phức tạp. Đối với nước ta, sau 35 năm đổi mới, thế và lực ngày càng được tăng cường, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức đan xen và diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước cấu kết với nhau tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội,… với những âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng công khai trực diện hơn. Tình hình trên tác động sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Quán triệt sâu sắc phương hướng xây dựng Quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần nắm vững và thực hiện nghiêm túc một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:

Một là, kiên định nguyên tắc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Sinh thời, trong chỉ đạo xây dựng Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Quân sự mà không có chính trị thì như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”1. Quán triệt tinh thần đó, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội gần 80 năm qua, Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu xây dựng Quân đội về chính trị, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, đảm bảo cho Quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, miễn dịch trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Ngày nay, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu xây dựng Quân đội về chính trị càng phải được quan tâm hơn nữa để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp, hiệu quả. Để làm được điều đó, trước hết, phải tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội luôn được giữ vững và tăng cường. Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ phải thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xác định động cơ, ý chí, quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ; tổ chức tốt các phong trào thi đua, các cuộc vận động và xây dựng môi trường văn hóa quân sự thời kỳ mới tiến bộ, lành mạnh, tạo sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận trong toàn quân.

Cùng với đó, phải quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược vững mạnh, có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng ngày càng cao, đóng vai trò nòng cốt, nêu gương, đi đầu trong các mặt hoạt động của Quân đội. Thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tập trung vào kiểm tra những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hoàn thành nhiệm vụ thấp,… góp phần giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, hoạt động xâm phạm an ninh quân sự, an ninh quốc gia và các loại tội phạm. Công tác dân vận phải được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, với nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, thiết thực, góp phần làm cho phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn tỏa sáng, mối quan hệ quân - dân ngày thêm gắn bó. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội.

Khi chất lượng chính trị trong Quân đội được giữ vững và tăng cường, sẽ làm cơ sở để xây dựng các mặt công tác và thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu giúp Đảng, Nhà nước đề ra quyết sách, phương án ngăn ngừa hiệu quả nguy cơ xảy ra chiến tranh, xung đột, nhất là trong bối cảnh quốc tế, khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo.

Hai là, tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”. Mục tiêu, phương hướng tổ chức lực lượng Quân đội đến năm 2025 là “tinh, gọn, mạnh”; có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần; điều chỉnh lực lượng phù hợp, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra. Thực hiện mục tiêu đó, vừa qua các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã quyết liệt triển khai tổ chức thực hiện và đã đạt được kết quả bước đầu. Thời gian tới, toàn quân cần nỗ lực hơn nữa để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, kết hợp chặt chẽ công tác tổ chức với công tác tư tưởng, công tác cán bộ và công tác chính sách. Trước mắt, tập trung hoàn thành các mục tiêu theo Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị; chủ động nghiên cứu, đề xuất xây dựng và triển khai hiệu quả Đề án tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, tạo nền tảng vững chắc để từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Tiếp tục điều chỉnh một số cơ quan, đơn vị theo kế hoạch; quản lý chặt chẽ đầu vào, kiên quyết giải quyết quân số dôi dư theo biểu tổ chức, biên chế đã ban hành, đảm bảo không tăng quân số trong toàn quân. Giảm biên chế song phải bảo đảm cho Quân đội có sức cơ động cao, cân đối giữa các đơn vị chủ lực sẵn sàng chiến đấu và đơn vị bảo đảm, phục vụ, giữa lực lượng thường trực, dự bị động viên và dân quân tự vệ. Trong đó, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu là một thành phần của Quân đội nhân dân, lực lượng quan trọng góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân; sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực khi có yêu cầu. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; tổ chức, biên chế đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, gắn với địa bàn và nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, tổ chức.

Ba là, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Toàn quân tiếp tục đột phá đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập theo Nghị quyết số 765-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, huấn luyện đêm, huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị, nhất là vũ khí, trang bị mới, hiện đại; kết hợp huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị và rèn luyện thể lực của bộ đội, nâng cao bản lĩnh, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; huấn luyện với phòng, chống dịch Covid-19, phòng, chống thiên tai, thảm họa môi trường; thực hiện nghiêm các quy định về bảo đảm an toàn trong huấn luyện, diễn tập. Năm 2021, thực hiện năm chủ đề “Nâng cao chất lượng, hiệu quả diễn tập, hội thao, hội thi ở trong nước, khu vực và quốc tế”, toàn quân tổ chức nghiêm túc diễn tập ở các cấp, diễn tập khu vực phòng thủ, với nhiều hình thức, bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, an toàn, sát thực tiễn, nhằm thuần thục các yếu lĩnh động tác, tình huống, hiệp đồng tác chiến, nâng cao trình độ làm chủ vũ khí, trang bị. Với các nhà trường Quân đội, cần có đột phá trong giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực quân sự, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế quản lý, điều hành huấn luyện, đào tạo theo hướng “Tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không chồng chéo”, tạo tiền đề vững chắc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ quân sự. Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và chất lượng ngày càng cao; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, khả năng tư duy, tay nghề sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn. Thực hiện tốt việc bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học cả về lý luận và thực tiễn, chú trọng rèn luyện bản lĩnh, phương pháp, tác phong chỉ huy, quản lý; đồng thời, có chính sách thu hút nhân tài về các học viện, nhà trường công tác. Tích cực đổi mới quy trình, chương trình, nội dung đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phù hợp với từng đối tượng, cấp học, sát thực tế huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Tập trung đầu tư xây dựng một số học viện, nhà trường theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư”; nâng cao chất lượng công tác bảo đảm huấn luyện đáp ứng yêu cầu “khoa học, hiệu quả, kịp thời”.

Trong bối cảnh thời cơ và thách thức, các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, sự chuyển hóa mau lẹ giữa đối tượng và đối tác, cùng sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên mọi phương diện, đòi hỏi toàn quân phải tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn kiện, kế hoạch tác chiến, hệ thống công trình phòng thủ, thiết bị chiến trường. Thường xuyên nắm chắc tình hình, đối tượng tác chiến và yêu cầu, nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình để điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh các văn kiện cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn; chế độ trực ban, trực chiến, trực chỉ huy phải được duy trì nghiêm túc. Tích cực tổ chức luyện tập theo các phương án đã xác định, làm cho bộ đội thuần thục các chiến lệ, trên các địa hình, tình huống chiến đấu, để khi có tình huống sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bốn là, tăng cường xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, tạo chuyển biến toàn diện, vững chắc về chấp hành kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Mục đích của việc thực hiện chính quy hóa Quân đội là nhằm bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong mọi hoạt động, công tác của bộ đội và các đơn vị trong toàn quân; trong đó, xây dựng nền nếp chính quy và duy trì kỷ luật là hai yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Đây là một nội dung rộng lớn, gồm nhiều vấn đề, liên quan tới mọi quân nhân, nên các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và các văn bản liên quan về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, cùng với những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn chỉ huy, quản lý bộ đội để có chủ trương, giải pháp phù hợp. Nội dung xây dựng chính quy phải toàn diện, song có trọng tâm, trọng điểm, đột phá vào những khâu yếu, mặt yếu kéo dài; nâng cao trình độ chính quy trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; quản lý con người và vũ khí, trang bị kỹ thuật. Kết hợp chặt chẽ xây dựng chính quy với chấp hành kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước; phấn đấu giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật thông thường hằng năm dưới 0,3%; hạn chế thấp nhất các vụ vi phạm nghiêm trọng, mất an toàn trong huấn luyện.

Để làm được điều đó, thời gian tới, toàn quân tiếp tục làm tốt công tác giáo dục, xây dựng động cơ, ý chí quyết tâm, tính tự giác của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện điều lệnh, điều lệ, chỉ thị, quy định; gắn giáo dục chính trị, pháp luật với các biện pháp hành chính và xử lý liên đới trách nhiệm của cán bộ. Thường xuyên rà soát, đánh giá tình hình, kết quả xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật của cơ quan, đơn vị để rút kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ huy, chấn chỉnh, xử lý sai phạm, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; duy trì nền nếp, chế độ sinh hoạt, học tập, công tác; tăng cường biện pháp quản lý các mối quan hệ xã hội của quân nhân. Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp phân đội có đủ phẩm chất, năng lực chỉ huy, quản lý, giáo dục bộ đội. Thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong thực hiện chính quy, rèn luyện kỷ luật, quản lý tư tưởng bộ đội; kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm ngay từ cơ sở; gắn xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” với xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, chủ động đấu tranh phòng, chống các tác động tiêu cực và văn hóa xấu độc. Đồng thời, phải thực hiện tốt nhiệm vụ hậu cần, kỹ thuật, hai mặt quan trọng không thể thiếu trong xây dựng Quân đội hiện nay; qua đó, bảo đảm tốt cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

Năm là, xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Việc hiện đại hóa Quân đội trong tình hình mới đòi hỏi phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật quân sự tiên tiến, hiện đại. Vì vậy, xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, có trình độ khoa học, công nghệ cao có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân từng bước hiện đại, góp phần thực hiện tốt chủ trương “kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”. Tổ chức tổng kết thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 16/7/2011 của Bộ Chính trị “Về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo” bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả; chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước những chủ trương, giải pháp có hiệu quả để phát triển công nghiệp quốc phòng phù hợp với Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam và yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội hiện đại trong giai đoạn mới. Tập trung hoàn thành kế hoạch và cơ chế đặc thù trong triển khai thực hiện chương trình, đề án công nghiệp quốc phòng đã xác định. Không ngừng nâng cao chất lượng nghiên cứu, chế thử, sản xuất, sửa chữa, đồng thời coi trọng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, nêu cao tinh thần đoàn kết, sáng tạo, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong và ngoài Quân đội; tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế với các quốc gia có nền quốc phòng tiên tiến, bảo đảm nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam hiện đại, lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn và gắn kết chặt chẽ với công nghiệp quốc gia.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Việc xác định đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, để từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại là chủ trương đúng đắn, nhất quán, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện tất cả chủ trương này, sẽ đảm bảo cho Quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm đó là của toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết và chủ yếu là của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tâm Trang (st)

________________

1. Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 217.

Bài viết khác:

THÔNG BÁO TỔ CHỨC LỄ VIẾNG

 THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. 

Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

66301308
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
8785
48692
627604
66301308