Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ hoàn cảnh sống và chiến đấu của bản thân Người. Hồ Chí Minh đã kế thừa sáng tạo truyền thống nhân văn của dân tộc và nhân loại mà đỉnh cao là học thuyết Mác Lênin, trong đó toát lên tinh thần nhân văn cộng sản vì sự nghiệp giải phóng con người

Chính tinh thần yêu nước, tình thương sâu sắc với những nỗi khổ đau của đồng bào mình đã trở thành động lực thôi thúc Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh  ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Ra đi, Người mang theo nỗi đau và nước mắt của những người phu Cửa Rào, của người nông dân chống thuế Trung Kỳ và những người yêu nước bị tàn sát dã man mà Người tận mắt chứng kiến.

Năm 1911, Người khởi đầu hành trình cứu nước khi tuổi đời còn rất trẻ nhưng trong tâm tư luôn trăn trở về nổi đau của đồng bào, về vận  mệnh đất nước. Tình cảm cao đẹp ấy đã  khiến Người chấp nhận mọi nặng nhọc, gian khổ làm phụ bếp trên  con tàu buôn Amiran Latutso Treville của Pháp.

Cuối năm 1911, Người nhận làm bồi trên một con tàu của Pháp chỏ hàng đến châu Phi, một nơi xa xôi và khí hậu rất khắc nghiệt với khát vọng cháy bỏng:  ”Tôi muốn xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi se trở về giúp đồng bào chúng ta...” Với Người, khát vọng giành độc lập tự do, xoá bỏ áp bức bóc lột đã chiếm lĩnh tâm hồn, tình cảm của Người, giúp Người vượt qua mọi gian khổ, thử thách trên hành trình tìm đường cứu nước. Một lần tàu đến Đông Phi, biển nổi sóng dữ dội, tàu không thể cập cảng. Bọn chủ Pháp bắt những người da đen nhảy xuống bơi vào bờ. Hết lượt người nọ đế lượt người kia bị sóng nhấn chìm. Nhìn cảnh tượng ấy Bác hết sức buồn rầu, Người nói: Người Pháp phần nhiều là tốt, nhưng người Pháp thực dân ở đâu cũng hung ác, vô nhân đạo. Ở ta tôi cũng thấy chuyện này ở Phan Rang, bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối. Đối với bọn thực dân, tính mạng người thuộc địa dù da vàng hay da đen cũng đều không đáng một xu.

Càng đi, tầm nhìn mở rộng, trong Bác càng đau đáu dâng lên nỗi niềm của người dân mất nước.

Đầu năm 1912, Bác đến nước Anh,  nhận làm nhiều việc nặng nhọc như quét tuyết, đốt lò, rửa bát trong nhà hàng... để có điều kiện sống và tiếp tục học hỏi. Chiều tối đuợc nghỉ, Bác ngồi ở vườn hoa Hayđơ, tay cầm quyển sách và cái bút chì để học tiếng Anh. Thật là cuộc gặp gỡ kỳ thú, nơi đây 1905, Lênin và Kpupxcaia cũng học tiếng Anh trong công viên này.

Khi còn làm bồi trong nhà hàng Cáctơlong nổi tiếng Luân-đôn, Bác thường gói thức ăn thừa lại để dành cho những người nghèo trên hè phố. Một lần, đọc báo xong, Bác chảy nước mắt vì đó là tin ông Thị trưởng Cook, một nhà yêu nước Ái-nhĩ-lan bị người Anh bắt bỏ tù, ông tuyệt thực 40 ngày để đấu tranh với Chính phủ Anh, ông đã chết, can đảm biết bao. Bác xúc động nói: “Một dân tộc có những người như ông Cook sẽ không bao giờ đầu hàng”.

Cuối năm 1912, Hồ Chí Minh đến Newyork vừa làm thuê vừa tranh thủ kiếm sống để học tập. Người đến thăm tượng Nữ thần tự do và duy nhất Người trong số các chính khách đã đến đó, người thanh niên trẻ tuổi đến từ một nước thuộc địa đã ghi: “ánh sáng trên đầu tượng thần toả sáng tận trời xanh, còn dưới chân tượng thần tự do này thì bao nhiêu người da đen bị chà đạp, số phận những người phụ nữ đang bị áp bức. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới.” Duy nhất chỉ có Bác nhìn số phận con người qua ánh hào quang.

Trong hành trình vòng quanh thế giới, chứng kiến tội ác của thực dân đối với người dân thuộc địa, tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh đã mở rộng thành tình yêu thương tất cả những người nô lệ trên toàn thế giới khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam trở thành khát vọng giải phóng các dân tộc thuộc địa.

Năm 1920, Người tiếp cận với Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên Báo L’Humanité, số ra ngày 16 và 17-7-1920, Người đã “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng...vui mừng đến phát khóc...”

Chính Luận cương của V.I. Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào, đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, hoài bão đã ấp ủ bấy lâu của Người. Và cũng từ đây Người tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đưa đến cách mạng Tháng Tám 1945 và ngày 2 tháng 9  năm 1945 Hồ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam trịnh trọng độc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.

Khi trở thành  lãnh tụ tối cao của dân tộc, nhưng Người sống hết mực giản dị và thanh bạch. Sự giản dị và thanh bạch đó thể hiện trong ngôi nhà sàn nho nhỏ của Người. Nơi đó có khu vườn xanh thơm hương hoa quả, có tiếng chim hót líu lo, có tiếng cá quẩy trong vuông ao gần đó. Nhân dân ta và cả bạn bè quốc tế, mỗi khi có dịp đến thăm nơi ở của Người đều ghi lại những cảm nghĩ vô cùng chân thật và sâu sắc. Một khách nước ngoài sau khi thăm ngôi nhà sàn đã ghi lại cảm tưởng rằng: “Nơi đây, nhà sàn không có chỗ cho sự xa hoa, nhưng cũng chẳng có chỗ cho sự tầm thường. Rất mực giản dị và thanh đạm, nhưng không loại trừ việc tìm kiếm cái đẹ”..

Ông Nguyễn Thế Văn, người đã được đi theo phục vụ Bác trong nhiều năm đã từng tâm sự rằng: Từ khi đi theo Bác, ông học được nhiều điều ở Bác, nhất là tinh thần tiết kiệm. Ông kể: “Mỗi bữa ăn của Bác chỉ có một niêu cơm nhỏ, một đĩa tai hoặc mũi lợn luộc, một chút mắm chua. Khi ăn, bao giờ Bác cũng gắp tai -mũi lợn ra một chiếc đĩa nhỏ rồi lấy chén đậy lại. Sau đó, Bác lấy dao khoanh tròn niêu cơn, lấy cháy ra ăn trước. Ăn xong, Bác bưng xuống bếp đưa cho tôi và anh em cán bộ phục vụ đĩa thịt tai lợn và bảo chỗ này Bác chưa gắp đến, các chú ăn đi. Chúng tôi nhìn nhau rơi nước mắt, chỉ có vài miếng thịt mỏng mà Bác còn phần chúng tôi thì...”.

            Còn một nhà báo đã từng được chứng kiến chiếc cặp lồng đựng cơm của Bác sau ngày Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập, cũng đã ghi lại một cách chân thực là: “Ngăn trên đựng một ít rau muống luộc, ngăn dưới một quả trứng rán, với vài miếng ớt, dưới cùng là một ít cơm”.

Sự giản dị của con người “Một đời thanh bạch chẳng vàng son” ấy còn thể hiện ở rất nhiều điểm đáng quý khác. Một đôi dép cao su - “Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ. Bác đi từ ở chiến khu Bắc về…” chẳng hạn. Đôi dép này cũng đã đi vào lịch sử. Nó hiển hiện như một chứng nhân của một vĩ nhân. Nó đã đi vào cả trong thơ, ca, nhạc, họa. Nó đã làm cho cả những người con dân nước Việt và nhân dân thế giới; các văn nghệ sĩ, các nhà báo, nhà quay phim mỗi khi có dịp tiếp cận Bác đều cố đến gần để nhìn tận nơi, thậm chí sờ được tay vào đôi dép cao su giản dị. Tất cả đều thực sự xúc động về sự thanh cao, giản dị, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Nhớ về Bác Hồ kính yêu, chúng ta ôn lại những chặng đường vất vả gian nan của Bác trong hành trình tìm hình của nước và một tấm gương vô cùng  trong sáng  về nhân cách, phẩm giá, đạo đức cách mạng. Một trong những nét đẹp đó của Người là lối sống giải dị, trong sạch, gần gũi với đời thường. Những nét đẹp đó luôn là nguồn cảm hứng cho những lời ngợi ca đi mãi với thời gian. Soi mình vào tấm gương của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên  gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, bồi đắp tình cảm cách mạng, tình thương yêu con người ngay trong từng hành vi ứng xử, giao tiếp trong công việc, để mỗi khi nghĩ về Bác lòng ta trong sáng hơn./.

Theo Thuý Hằng/ Trường Chính trị Hậu Giang

Tâm Trang (st)

Bài viết khác:

THÔNG BÁO TỔ CHỨC LỄ VIẾNG

 THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. 

Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

68017487
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
29107
246482
29107
68017487