Quan điểm về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, là “kim chỉ nam” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Nhìn lại hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, chúng ta thấy rằng, cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đã không ngừng phát triển, đổi mới.

Từ Đại hội Đảng lần thứ VI tư duy mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng được hình thành và tiếp tục phát triển qua các kỳ đại hội. Đó không phải là những quan điểm hoàn toàn mới, mà là quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng đối với một lĩnh vực trọng yếu của cách mạng, nhằm kế thừa truyền thống lịch sử dân tộc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới của cách mạng Việt Nam. Trên thực tế, sự phát triển nhận thức, quan điểm của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đã góp phần quan trọng vào những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” mà nhân dân ta đã đạt được trong hơn 30 năm qua, tạo thế và lực mới để đất nước ta hội nhập, phát triển nhanh, bền vững.

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình trong nước, khu vực và quốc tế, xu thế của thời đại, với tầm nhìn chiến lược và tư duy khoa học sắc sảo, từ Đại hội XII đến nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; trong đó, làm rõ hơn, sâu sắc hơn và có bước phát triển, nhận thức mới về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm, phương thức, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Những phát triển trong nhận thức, quan điểm của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc giai đoạn 2016 - 2020 được thể hiện rõ nét, tập trung trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và được cụ thể hóa trong hệ thống các chiến lược quốc gia vừa được ban hành trong thời gian qua, như: Chiến lược Quốc phòng Việt Nam; Chiến lược Quân sự; Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia; Luật Quốc phòng (sửa đổi năm 2018), v.v. Có thể khái quát trên một số nội dung lớn sau:

1. Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc, đầy đủ, toàn diện hơn về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng. Theo đó, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định vai trò quan trọng của củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Đồng thời, nhất quán các quan điểm cơ bản: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v. Trên cơ sở nhận thức về đối tác, đối tượng ngày càng sáng rõ, linh hoạt, uyển chuyển, biện chứng hơn, cũng như kế thừa quan điểm bảo vệ Tổ quốc đã được đề cập qua các kỳ đại hội Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển toàn diện, sâu sắc hơn và được thể hiện ngay trong chủ đề Đại hội XII. Lần đầu tiên Đảng ta đưa nội dung “Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” vào chủ đề của Đại hội XII, xác định là một thành tố không thể thiếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên tinh thần đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định nội hàm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nhưng mở rộng và bao trùm hơn; trong đó, nhấn mạnh nội dung cốt lõi là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”, thể hiện tính toàn diện, tổng thể của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đảng ta đã nhận thức rõ, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo, nhất là ở Biển Đông diễn ra gay gắt; các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp thì mục tiêu tối thượng là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đi liền với đó, là phải giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định để tranh thủ mọi nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển đất nước bền vững, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước là lợi ích cao nhất của quốc gia, dân tộc. Đây là hai mặt của vấn đề đã được Đảng ta nhận thức, đặt trong mối quan hệ biện chứng của mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc, có giá trị lý luận và định hướng chỉ đạo thực tiễn sâu sắc.

2. Bổ sung, phát triển phương châm bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đảng ta xác định phải “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;...”1. Đây là phương châm chỉ đạo chiến lược, vấn đề căn cốt được đúc rút qua thực tiễn, kinh nghiệm lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thể hiện sự thấu suốt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong quân sự, quốc phòng; kế thừa những nội dung phương châm chỉ đạo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Đảng ta đã xác định qua các kỳ đại hội. Đó là: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược. Kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp quốc tế; có đối sách phù hợp với từng đối tượng, từng tình huống. Đồng thời, quán triệt phương châm bảo vệ Tổ quốc được đề cập trong Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, là: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế; phân hóa, cô lập các phần tử, thế lực ngoan cố chống phá Việt Nam; lấy việc giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật; chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Trong điều kiện bối cảnh quốc tế, trong nước và những nguy cơ, thách thức, các tình huống quốc phòng, thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng, cùng nhiều vấn đề phức tạp khó lường nảy sinh đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc như hiện nay, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta nhận thức và xác định, hơn bao giờ hết phải kiên quyết, chủ động đấu tranh, song quá trình đấu tranh phải kiên trì, bền bỉ thực hiện tổng thể các biện pháp, kết hợp linh hoạt giữa kiên quyết đấu tranh, kiên định mục tiêu chiến lược với sự kiên trì, mềm dẻo, dựa vào luật pháp quốc tế, dựa vào sức mạnh của cộng đồng quốc tế, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội hàm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh” đã thể hiện rõ bước tiến mới trong tư duy lý luận, nhận thức thực tiễn của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đó vừa là quan điểm, vừa là phương châm định hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng ta nhằm giải quyết những mâu thuẫn, khác biệt đối với chủ quyền của quốc gia, dân tộc; đồng thời, còn là phương châm làm thất bại mọi âm mưu, hành động của các thế lực thù địch, nhất là chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ - một trong những nguy cơ tiềm ẩn không thể xem nhẹ cả trước mắt và lâu dài.

3. Tư duy mới về kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh tổng hợp của các yếu tố: chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, đối ngoại,…; là sự kết hợp chặt chẽ nội lực với ngoại lực, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dựa trên nền tảng đường lối chính trị đúng đắn của Đảng. Trong đó, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân. Quán triệt tinh thần đó và trên cơ sở tổng kết 30 năm đổi mới, 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa IX) và quá trình lãnh đạo thực hiện nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI), Đảng ta đã nhận thức toàn diện, biện chứng hơn về phương thức kết hợp giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về quan hệ và sự kết hợp các lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nổi bật trong Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,...”2. Đây là điểm bổ sung, phát triển sáng tạo trong tư duy nhận thức của Đảng về bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu văn kiện của các đại hội trước đây, chúng ta thấy rằng, Đảng ta mới xác định sự kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế và đối ngoại, thì tới Đại hội XII sự kết hợp này được mở rộng về nội hàm. Ở đây, vai trò của văn hóa, xã hội đã được Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn, xác định là một trong những thành tố không thể thiếu trong sự kết hợp đó. Quan điểm trên của Đảng hoàn toàn đúng đắn, khi thực tế vấn đề văn hóa, xã hội đã, đang có những tác động không nhỏ tới quốc phòng, an ninh cả mặt tích cực và tiêu cực. Điều đó, hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng khi khẳng định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của cả lực lượng, thế trận, cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là định hướng rất quan trọng để các cấp, ngành, địa phương triển khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án kinh tế, văn hóa, xã hội trên các khu vực, địa bàn và cả nước; đồng thời, khắc phục triệt để những thiếu sót, sơ hở trong kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh cũng như quốc phòng, an ninh với kinh tế và văn hóa, xã hội.

4. Đảng ta tiếp tục làm sâu sắc tư tưởng, quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Kế thừa bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy” trong lịch sử và kế thừa, phát triển tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc từ xa đã được đề cập qua các kỳ đại hội Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI), Đảng ta nhấn mạnh, làm sâu sắc quan điểm, tư tưởng chỉ đạo “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” trong điều kiện mới. Theo đó, Đảng ta tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển các quan điểm về kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại; gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, sức mạnh tổng hợp của đất nước, v.v… Từ thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng của an ninh, đối ngoại, đối ngoại quốc phòng; về nội hàm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; nhấn mạnh việc kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” trong thời kỳ phát triển và hội nhập, làm cơ sở, nền tảng để xây dựng các tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân, v.v… Nghị quyết Đại hội XII nhấn mạnh: Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Đảng ta cụ thể hóa quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khẳng định phải xây nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, ngày càng hiện đại, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo đảm có đủ sức mạnh cần thiết để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, hình thái chiến tranh tương lai có nhiều thay đổi, phát triển mới, trước hết là ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột vũ trang, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước; đồng thời, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống, kể cả chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao. Quán triệt và thấu suốt tư duy mới của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc khi nước ta hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh quan điểm: Vừa hợp tác vừa đấu tranh; kết hợp chặt chẽ và linh hoạt hợp tác với đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong lĩnh vực quốc phòng, chú trọng thúc đẩy mở rộng quan hệ, hợp tác, nhưng không xem nhẹ đấu tranh quốc phòng; phải kết hợp chặt chẽ hai hình thức đấu tranh phi vũ trang và đấu tranh vũ trang; trong đó, lấy đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, nhưng không coi nhẹ hình thức đấu tranh vũ trang và sẵn sàng sử dụng khi cần thiết, nhằm đảm bảo sự ổn định từ “bên trong” và đối phó thắng lợi với chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức của các thế lực thù địch từ “bên ngoài”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống.

5. Kịp thời thể chế hóa quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - bước phát triển đột phá về nhận thức, tư duy lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Đảng. Trong các kỳ đại hội trước đây, quan điểm về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện ở các nghị quyết, chỉ thị của Đảng mới chỉ là những định hướng chung nhất. Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Đảng ta đều nhấn mạnh: phải xây dựng, ban hành, hoàn thiện các chiến lược quốc phòng, an ninh và hệ thống cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới. Quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo đó và trước yêu cầu của thực tiễn đất nước, từ năm 2016 đến nay, Đảng ta đã chỉ đạo xây dựng, ban hành mới và bổ sung, hoàn thiện khá đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về quốc phòng, an ninh. Nổi bật là, đã ban hành: Chiến lược Quốc phòng Việt Nam; Chiến lược Quân sự Việt Nam; Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia; Luật Quốc phòng (sửa đổi năm 2018); Chiến lược An ninh mạng quốc gia và một số chiến lược chuyên ngành khác. Đây là lần đầu tiên Đảng thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản, đảm bảo cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, có tính khả thi cao. Các văn kiện trên không chỉ quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, mà còn cập nhật những vấn đề mới của pháp luật hiện hành về quốc phòng, an ninh và thực tiễn đất nước, tạo nên hệ thống chiến lược quốc gia về lĩnh vực quốc phòng khá hoàn chỉnh, đồng bộ. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng; tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình mới. Có thể nói, đây là bước tiến lớn, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy nhạy bén, đột phá về nhận thức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực quốc phòng của Đảng, đánh dấu bước phát triển mới trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Việc ra đời hệ thống chiến lược quốc gia nêu trên là điểm nhấn quan trọng không chỉ của giai đoạn 2016 - 2020, mà của cả quá trình lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta từ trước đến nay. Đây là cơ sở, nền tảng để chỉ đạo các cấp, ngành, lực lượng và địa phương triển khai thực hiện; đồng thời, là cơ sở xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước lớn, bạn bè truyền thống, tạo thế và lực mới cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Từ năm 2016 đến nay, quan điểm, chủ trương về bảo vệ Tổ quốc đề cập trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ, với quyết tâm chính trị rất cao và đạt kết quả tích cực. Trong bối cảnh tình hình an ninh, chính trị thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, chứa đựng nhiều nguy cơ khó lường; cạnh tranh về chiến lược giữa các nước lớn; tình hình phức tạp ở Biển Đông,… gia tăng. Trong nước, lợi dụng việc tiếp thu, chỉnh sửa một số dự án luật mới, các thế lực thù địch tập trung kích động, chống phá quyết liệt với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm, nhưng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được bảo vệ vững chắc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; tiềm lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân” được xây dựng ngày càng vững chắc. Việc kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; quốc phòng, an ninh, đối ngoại được triển khai chặt chẽ, hiệu quả. Khu vực phòng thủ các cấp được xây dựng từng bước vững mạnh. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là xây dựng Quân đội có nhiều đột phá. Các lực lượng, nòng cốt là Quân đội, Công an luôn chủ động nắm, dự báo chính xác tình hình, tham mưu cho Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững hòa bình, ổn định để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Uy tín và vị thế của đất nước trên trường quốc tế không ngừng được nâng lên. Kết quả đó, một mặt phản ánh sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; mặt khác, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng, trong đó có đổi mới, phát triển tư duy lý luận, nhận thức về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là đúng đắn, sáng tạo.

Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa,
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Đức Lâm (st) 

_________________

1. ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 52.
2. Sđd, tr. 149.

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập

42609136
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
8960
45309
205575
42609136