... Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta...

... Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta...”. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng.

bh vieng nghia trang LS
Bác Hồ viếng nghĩa trang liệt sỹ

Mỗi dịp kỷ niệm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7), chúng ta lại thương nhớ, kính trọng nhiều hơn về những người con ưu tú của dân tộc đã hy sinh tính mạng, xương máu, cống hiến sức lực, trí tuệ và tài sản cho đất nước. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao to lớn của những người và gia đình có công với cách mạng. Đồng thời, càng nhớ về Bác kính yêu, về những tình cảm đặc biệt và tấm lòng yêu thương vô hạn của Người dành cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Là người lãnh đạo Đảng, lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu và đánh giá cao những hy sinh, mất mát của các thương binh, liệt sỹ và thân nhân gia đình của họ trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bác cũng chính là người luôn thấu hiểu và đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực lao động - thương binh và xã hội.

Dù những ngày đầu thành lập đất nước còn đang bộn bề bao công việc quốc gia đại sự, Người cũng vẫn luôn nhớ đến những người đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc. Trong thư gửi đồng bào có đoạn Người viết“Tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng”.- Báo Cứu quốc  ngày 10/3/1946. Thư gửi đồng bào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam đã vì Tổ quốc mà hy sinh anh dũng”.

Đầu năm 1946, Hội Giúp binh sĩ tử nạn (sau đó đổi tên Hội Giúp binh sĩ bị thương) được thành lập ở Thuận Hoá (Bình Trị Thiên) ở Hà Nội và một số nơi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh được mời làm Hội trưởng danh dự của Hội này.

Chiều ngày 28 tháng 5 năm 1946, Hội Giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát lớn Hà Nội tại thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh đã tới tham dự.

Chiều ngày 17/11/1946 Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam có tổ chức cuộc vận động “Mùa Đông binh sĩ” tại Hà Nội, mở đầu cho cuộc vận động “Mùa Đông binh sĩ” được tổ chức trong cả nước, nhằm giúp đỡ các chiến sỹ trong mùa Đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi Lễ và tặng chiếc áo mà Người đang mặc (chiếc áo sau này bán đấu giá được 3.500 đồng).

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” nhân dân ta nhất tề đứng dậy cùng nhau chống lại giặc nước. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên. Thương binh, liệt sĩ trở thành vấn đề lớn. Trước tình hình đó, cùng với việc tiếp tục kêu gọi giúp đỡ thương binh, gia đình tử sĩ, ngày 16 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

Tháng 6 năm 1947, Bác chỉ thị chọn một ngày trong năm làm ngày Thương binh toàn quốc và coi đó là một dịp cho nhân dân cả nước tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh. Thực hiện chỉ thị của Bác, một hội nghị trù bị được tổ chức tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tại Hội nghị này, đại biểu các cơ quan, ban, ngành Trung ương, khu, tỉnh nhất trí đề nghị Trung ương lấy ngày 27-7 làm Ngày Thương binh toàn quốc. Và cũng ngày đó, Bác Hồ đã có thư gởi cho thương binh. Trong thư, Bác viết : "... Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy ...".

Ngay chiều hôm đó, 27-7-1947, một cuộc mít-tinh trọng thể được tổ chức tại huyện Đại Từ. Có khoảng 2.000 người tham gia, được nghe Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc trịnh trọng đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thư, Hồ Chí Minh có viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ, của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh....Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu....Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Người xót xa viết: “Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Ngày nay, bố mẹ họ mất một người con yêu quý. Vợ trẻ trở nên bà goá. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”.  Đây là bức thư đầu tiên của Bác Hồ nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ. Từ đó, ngày 27-7 hàng năm đi vào lịch sử của dân tộc ta.

Hàng năm cứ đến ngày 27-7, Bác Hồ không chỉ có thư thăm hỏi mà còn gởi quà cho thương binh và gia đình liệt sĩ. Để có một cơ quan chức năng của Chính phủ đặc trách chăm lo công việc trọng đại này. Ngày 3-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 613/SLĐB Sắc lệnh tổ chức Bộ thương binh và Cựu binh, tiền thân của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội sau này.

Năm sau, ngày 27 tháng 7 năm 1948, trong một thư dài đầy tình thương yêu, Bác nói: “Nạn ngoại xâm như trận lụt to đe doạ tràn ngập cả non sông Tổ quốc, đe doạ cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con, dân ta. Trong cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào”.

Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, một nửa đất nước được giải phóng, nhớ đến công lao của những anh hùng liệt sĩ, giữa bộn bề công việc, Bác viết thư cho cụ Bộ trưởng Bộ Thương bình “Tôi đã tiếp được báo cáo nhiều nơi khen ngợi một số thương binh - bệnh binh và gia đình liệt sĩ đã trở thành người thương binh kiểu mẫu, gia đình gương mẫu. Tôi mong rằng Bộ Thương binh xã hội nêu những thành tích và những kinh nghiệm quý báu ấy để những cô chú, anh em khác noi theo”.

Ngày 31- 12- 1954, Bác cùng các đồng chí Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã đến đặt vòng hoa lên Đài liệt sĩ - đài mới được dựng trên khoảng đất rộng trong vườn hoa cạnh Quảng trường Ba Đình, trước Phủ Chủ tịch. Đứng trước Đài liệt sĩ, hương trầm nghi ngút, Bác bùi ngùi tưởng nhớ các liệt sĩ, không giữ được dòng nước mắt. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Bác đọc điếu từ. Bác viết: "Hỡi các liệt sĩ! trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá quốc kỳ. Tiếng thơm các liệt sĩ sẽ muôn đời truyền với sử xanh. Một nén hương thanh. Vài lời an ủi. Anh linh của các liệt sĩ bất diệt!  Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!"

Đối với thương binh, Bác luôn ân cần căn dặn là phải giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của quân đội nhân dân. Bác viết: “... Các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương, cũng như các đồng chí đã từng là người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn luôn nhớ đến các đồng chí…”. Không những thế, Bác Hồ còn kêu gọi đồng bào noi gương oanh liệt của thương binh, liệt sĩ, ra sức đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc. Bác luôn đề cao sự cống hiến của thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Bác cũng nghiêm khắc nhắc nhở “Nếu anh em nào có sai lầm như công thần, ỷ lại, kém kỷ luật, kém tin tưởng, yêu cầu nhân dân quá đáng, không tích cực công tác thì nên cố gắng sửa chữa”. Lời Bác nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm khắc của lãnh tụ kính yêu. Chính những lời nhắc nhở ấy, một số có sai sót đã nhận ra lỗi của mình mà hối hận, thực lòng khắc phục sửa chữa.

Cho đến trọn cuộc đời, trước lúc đi xa, Bác Hồ còn viết trong Di chúc để dặn dò những người ở lại: Đầu tiên là công việc với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách giúp cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp đối với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi lại sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ), người có công với nước mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Thực hiện những lời dạy quý báu của Bác Hồ kính yêu, Đảng - Nhà nước và nhân dân ta đã dành cho thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ những tình cảm đặc biệt và tấm lòng thương yêu vô hạn về cả vật chất lẫn tinh thần ngay trong thời chiến cũng như thời bình.

Sau ngày đất nước thống nhất, ngày 29-3-1978, Bộ Thương binh - Xã hội (sau này là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) đã ban hành Chỉ thị số 07/TBXH về cuộc vận động chính trị trong thương binh, gia đình liệt sĩ phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, mãi mãi xứng đáng là “Người công dân kiểu mẫu” và “Gia đình cách mạng gương mẫu”.

“... Xây dựng được phong trào sôi nổi và thi đua phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang trong thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, tùy theo khả năng và lĩnh vực hoạt động của mình mà đóng góp nhiều nhất cho yêu cầu phát triển sản xuất, công tác và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân. Qua thực tiễn đó mà rèn luyện mãi mãi xứng đáng là “Người công dân kiểu mẫu” và “Gia đình cách mạng gương mẫu” như Bác Hồ hằng mong muốn ...”.

 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 15-7-1985 về việc tăng cường chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng: “Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng “Người công dân kiểu mẫu”, “Gia đình cách mạng gương mẫu”, thu hút nhiều người, nhiều gia đình có công ở cơ sở tham gia, đồng thời phát động phát triển toàn dân, nhất là thế hệ trẻ, học tập và làm theo những gương tốt. Chấn chỉnh nề nếp sinh hoạt chính trị ở các cấp của những người và gia đình có công, nhất là đối với cán bộ, bộ đội hưu trí, nhằm thường xuyên và kịp thời phổ biến cho anh chị em. Sử dụng hợp lý trình độ, khả năng đóng góp của anh chị em vào công tác ở cơ sở. Mặt khác, cần chống luận điệu chiến tranh tâm lý, phá hoại của địch, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những hành động phi pháp làm mất uy tín và phá hoại truyền thống cách mạng ...”.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, hàng vạn thương binh, bệnh binh đã không công thần mà nỗ lực phấn đấu, vượt mọi khó khăn, nhiều người đã gương mẫu trong lao động, sản xuất, công tác và học tập, đảm nhiệm những vị trí trọng trách quan trọng từ Trung ương đến cơ sở và trở thành Anh hùng Lao động, Chiến sĩ thi đua, Người công dân kiểu mẫu, Gia đình cách mạng gương mẫu.

 Được sống trong cảnh đất nước thanh bình, hạnh phúc ấm no như ngày hôm nay chúng ta càng phải ghi nhớ, khắc sâu những lời dạy của Bác tích cực hưởng ứng tham gia cùng các Ban, ngành, đoàn thể các cấp; các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tổ chức tốt phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa”: Giúp đỡ thương binh và gia đình liệt sĩ... nhằm để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giảm bớt một phần khó khăn trong cuộc sống của họ. Đó là tình cảm, trách nhiệm và bổn phận của mỗi chúng ta và của toàn xã hội./.

Kim Yến 

Bài viết khác:

Bài viết liên quan:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

43801341
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
15638
63353
577487
43801341