Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; qua đó, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên; góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm đổi mới. Thời gian tới, các chủ thể cần tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị quan trọng này, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

suc manh nhan dan 1
Bác Hồ với công nhân _Ảnh: Tư liệu

Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về phát huy sức mạnh của nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước

Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, như là sợi dây gắn kết, trao truyền giữa các thời kỳ, thế hệ với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống đó của ông cha ta trong lịch sử, nâng tầm thành những tư tưởng triết lý sâu sắc để giáo dục, bồi dưỡng và vận động, tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân vào Mặt trận dân tộc thống nhất, Mặt trận Việt Minh, nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc không chỉ có tác dụng trong bối cảnh lịch sử đất nước bị xâm lược bởi chủ nghĩa đế quốc, thực dân, mà còn tiếp tục phát huy tác dụng đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Người khẳng định: “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(1). Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, khi toàn dân tộc ta đoàn kết, thống nhất một lòng thì dân tộc sẽ trường tồn, phát triển, đạt được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Do đó, yêu cầu đặt ra là biết tập hợp ý kiến, quan điểm riêng lẻ thành một phương hướng, mục tiêu chung thống nhất - đó là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; muốn vậy thì phải: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”(2). Người nhấn mạnh, mục đích, nhiệm vụ của đoàn kết là: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”(3); “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”(4). Người cho rằng, đoàn kết là phải mang tính toàn dân, rộng khắp, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, thành phần, dân tộc, vùng, miền, hễ là người Việt Nam đều phải yêu nước, tham gia vào các phong trào cách mạng khác nhau. Người cũng chỉ rõ, phải: “Đoàn kết rộng rãi và lâu dài”, “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(5).

Kế thừa và vận dụng sáng tạo, linh hoạt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối thực hiện đại đoàn kết phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra ở từng thời điểm, giai đoạn cụ thể. Đảng ta luôn khẳng định, đoàn kết là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh to lớn của mọi thắng lợi; do vậy, phải có chủ trương, biện pháp đúng, trúng để giữ vững, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc thành lực lượng cách mạng to lớn, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng cụ thể hóa, thể chế hóa thành nghị quyết, chỉ thị, kết luận sát hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện, gắn với quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các giai cấp, giai tầng xã hội, nhất là từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay. Đảng đã ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các văn kiện Đại hội Đảng từ khóa VI đến khóa XIII, quan điểm về đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được khẳng định, cụ thể hóa trong các nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương qua các nhiệm kỳ(6).

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, đã tập hợp đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất để tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giành thắng lợi lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong xây dựng và phát triển đất nước: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. Ban hành và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”(7).

suc manh nhan dan 2
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ với nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh _Ảnh: TTXVN

Một số kết quả nổi bật về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Thứ nhất, phát triển định hướng chính sách, nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết về phát triển kinh tế, trọng tâm là các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương qua các năm về phát triển kinh tế tư nhân(8). Cụ thể hóa chủ trương đó, Nhà nước đã nỗ lực, tích cực, khẩn trương xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về kinh tế, nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; trọng tâm là các vấn đề về cải cách thể chế, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển; xóa bỏ những quy định hạn chế cạnh tranh, phân biệt đối xử; hoàn thiện thủ tục hành chính về doanh nghiệp theo hướng tập trung, đơn giản hóa, thực hiện chế độ công khai, minh bạch. Đảng ta luôn khẳng định quan điểm gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, trong đó vai trò điều tiết và quản lý vĩ mô của Nhà nước là rất quan trọng và quyết định. Hệ thống chính sách, pháp luật về việc làm, thực hiện an sinh xã hội và công bằng xã hội giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân, giữa các vùng, miền luôn được bảo đảm, đặc biệt là chính sách giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chính sách trợ giúp xã hội cho người yếu thế, người có công với cách mạng luôn được quan tâm.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tạo được chuyển biến tích cực, có bước đột phá, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết giữa “xây” và “chống”. Từ năm 2013 đến năm 2022, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương và địa phương đã khởi tố, điều tra 14.300/24.410 bị can; xét xử sơ thẩm hơn 11.700/22.600 bị cáo về tham nhũng kinh tế, chức vụ. Riêng Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ khi thành lập đến nay đã đưa 800 vụ án, vụ việc tham nhũng kinh tế nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó, Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc, đã xét xử sơ thẩm 120 vụ án/1.083 bị cáo, với mức án rất nghiêm khắc, đúng pháp luật, có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe, phòng, chống tham nhũng hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phát hiện và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến các địa phương chú trọng tổ chức thực hiện, có nhiều chuyển biến, tiến bộ và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã chủ trì và tham gia cùng các cơ quan, tổ chức giám sát nhiều nội dung quan trọng liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Thứ hai, phát huy vai trò của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và giai đoạn 2021 - 2030, chỉ đạo đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước các cấp; xây dựng tác phong làm việc của cán bộ, công chức phục vụ nhân dân. Giai đoạn 2016 - 2021, tập trung vào việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cắt giảm 3.893/6.191 điều kiện kinh doanh, 6.776/9.926 danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, tiết kiệm hơn 18 triệu ngày công/năm, tương đương hơn 6.300 tỷ đồng/năm. Chú trọng xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính; nhiều bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương đã có sự cải thiện tích cực về các chỉ số, như cải cách hành chính, quản trị và hành chính công, sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo việc tiếp tục xây dựng tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức phù hợp với thực tiễn và đặc thù của địa phương; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tụy phục vụ nhân dân. Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh và triển khai đồng bộ, cải cách chế độ công vụ, công chức, đổi mới phương thức, lề lối làm việc, giải quyết thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, lấy sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước làm mục tiêu phấn đấu. Công tác dân vận của các cơ quan nhà nước đã huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, thực hiện tốt chương trình giảm nghèo bền vững; công tác chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho nhân dân được quan tâm, tập trung vào đối tượng gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, cận nghèo, công nhân, người lao động ở khu chế xuất, khu công nghiệp, sinh viên, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, người già neo đơn, trẻ mồ côi, người khuyết tật,...

Thứ ba, mở rộng và đa dạng hóa hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; đa dạng hóa hình thức tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể tham mưu và làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Nhiều hình thức tập hợp lực lượng sinh động, hiệu quả, như: 1- Tuyên truyền, vận động, thuyết phục các giai cấp, tầng lớp nhân dân, nhân sĩ, trí thức, người có uy tín tiêu biểu đoàn kết xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; 2- Tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước từ Trung ương đến cơ sở; 3- Xây dựng các chương trình hành động, các đề án hoạt động xã hội phong phú, thiết thực, như đề án bảo vệ môi trường, bảo trợ xã hội, hoạt động nhân đạo, từ thiện ở các cấp,... 4- Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết” trên khắp mọi miền của đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã thực hiện tốt vai trò nòng cốt, tập hợp và hướng dẫn các hội quần chúng hoạt động, đặc biệt là ở cơ sở; phối hợp với các hội trong công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, gắn với “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, như cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”...

Thứ tư, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước

Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phát huy tính tích cực của các phương tiện truyền thông đại chúng làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự đồng thuận của xã hội. Phát động và thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực; tôn vinh người tốt, biểu dương việc tốt để tạo động lực phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

suc manh nhan dan 3
Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Bùi Thị Minh Hoài dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn An Thuận, xã An Ninh, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam _Nguồn: baohanam.com.vn

Thứ năm, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Kiên trì cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng; củng cố sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng và trong từng tổ chức đảng; phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; hoàn thiện cơ chế động viên nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Đảng tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo đối với cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; đổi mới thông qua công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường kiểm soát quyền lực, thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới phong cách và lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát triển tổ chức, thành viên, đoàn viên, hội viên, vận động nhân dân tham gia tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, phát huy tốt vai trò đại diện, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, phản biện xã hội; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm tốt vai trò cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Những kết quả đó góp phần tăng cường mở rộng dân chủ, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận trong xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; củng cố, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Kinh tế - xã hội đất nước phát triển nhanh và ổn định, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên, an sinh xã hội được tăng cường, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng; giải quyết tốt các vấn đề xã hội và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; từng bước khắc phục sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng, miền, khu vực, góp phần tạo dựng để đất nước ta “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(9).

Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn bất cập, hạn chế, như việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở một số lĩnh vực, địa bàn kết quả còn thấp; nhiều nguồn lực trong nhân dân chưa được phát huy hiệu quả, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, khoảng cách giữa các vùng, miền, khu vực còn lớn. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được cụ thể hóa kịp thời, quyền làm chủ của nhân dân có nơi còn bị vi phạm. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chưa phát huy hết vai trò trong tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đại diện quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Nguyên nhân của bất cập, hạn chế chủ yếu là: 1- Nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đầy đủ, sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng của phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới; một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng nhân dân, không kịp thời giải quyết bức xúc, kiến nghị của nhân dân; 2- Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm rõ nội dung cốt lõi về đại đoàn kết toàn dân tộc, về sự biến động và những vấn đề mới đặt ra đối với mỗi giai tầng, về liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong điều kiện mới; 3- Một số chính sách, pháp luật được ban hành chưa sát với thực tiễn cuộc sống, khi thực hiện gây nhiều bức xúc trong nhân dân; có chủ trương đúng, nhưng chậm được triển khai, thực hiện trong thực tiễn; 4- Sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Một số nhiệm vụ, giải pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới

Một là, nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và nhân dân về vị trí, tầm quan trọng phát huy sức mạnh của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới. Tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân về xây dựng khối đại đoàn kết và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chú trọng công tác chính trị, tư tưởng, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục về tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung; trách nhiệm công dân; đạo đức xã hội cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy hiệu quả các phương tiện truyền thông đại chúng, các loại hình văn hóa, nghệ thuật; đồng thời, ứng dụng các phương thức truyền thông mới trong tuyên truyền, giáo dục truyền thống; coi trọng xây dựng và phát huy vai trò của người có uy tín trong tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh phòng, chống âm mưu, hành động chia rẽ nhân dân với Đảng và Nhà nước, chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện chủ trương, chính sách phù hợp tình hình thực tiễn, nhằm tăng cường, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân, khơi dậy, phát huy mọi nguồn lực, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm rõ những nhân tố tác động đến sự phân hóa, biến động của các giai tầng xã hội; làm rõ nội hàm về đại đoàn kết toàn dân tộc, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nội dung cốt lõi của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong tình hình mới; xây dựng và triển khai chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Ba là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, kiên trì thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, khóa XII và Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

suc manh nhan dan 4
Quân và dân tuần tra biên giới _Ảnh: TTXVN.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; sâu sát cơ sở, gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn hành động vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động phục vụ nhân dân của Nhà nước. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định. Việc xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật của Nhà nước phải thật sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm hài hòa lợi ích trong xã hội.

Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ nhân dân, lo trước nhân dân, vui sau nhân dân; lấy ấm no và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân; xây dựng cơ chế, chính sách khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo, phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của các tổ chức xã hội và mọi người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, góp phần xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Thực hiện đúng đắn chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước.

Năm là, phát huy mọi nguồn lực xã hội, tiếp tục phát triển kinh tế, nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Huy động và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực cho phát triển đất nước; cần có cơ chế phù hợp để huy động nguồn lực xã hội, nguồn vốn từ các quỹ ngoài ngân sách, quỹ doanh nghiệp, khu vực tư nhân để tiếp tục phát triển kinh tế, nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong tham gia hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch lớn của Nhà nước. Cả hệ thống chính trị tập trung vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên nỗ lực phấn đấu, thi đua trong điều kiện mới, phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Sáu là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xã hội. Thể chế hóa và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở. Tổ chức thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong tất cả loại hình tổ chức và đơn vị cơ sở thuộc các cấp, các ngành, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang và các hội quần chúng.

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, hình thức phù hợp để nhân dân tham gia ý kiến đối với những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước. Trước khi ban hành chủ trương, chính sách quan trọng, liên quan mật thiết đến cuộc sống của nhân dân, tạo điều kiện tối đa để nhân dân bày tỏ ý kiến đóng góp của mình. Phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của nhân dân, trọng tâm là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; đổi mới hoạt động quản lý nhà nước, những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân và phát triển bền vững đất nước.

Bảy là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng tiếp tục đi vào thực chất, có trọng tâm, trọng điểm, vận động mọi tầng lớp nhân dân; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; phát huy cao độ những giá trị văn hóa, sức mạnh và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam, tạo nguồn lực nội sinh và động lực đột phá để thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng, không ngừng đổi mới tư duy sáng tạo, có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì sự phát triển chung của đất nước. Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tuyên truyền, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với biến đổi cơ cấu xã hội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

Tám là, đổi mới phong trào thi đua theo hướng thiết thực, kịp thời, hiệu quả hướng mạnh về cơ sở để người dân có nhiều cơ hội tham gia, thực sự là chủ thể trong phát triển kinh tế, lao động, sản xuất, sáng tạo, làm giàu cho gia đình, xã hội, xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Làm tốt công tác tôn vinh, khen thưởng tổ chức, cá nhân thực sự xuất sắc trong các phong trào thi đua, các cuộc vận động.

Nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng; hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về thi đua, khen thưởng để tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, nhằm thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân./.

----------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 55

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 119

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 49

(4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 244

(6) Như: Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28-1-2008, của Ban Chấp hành Trung ương khóa X, “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”...

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 70

(8) Như: Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới”...

(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 25

TS PHẠM TẤT THẮNG

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương

Theo Tạp chí Cộng sản

Tâm Trang (st)

Bài viết khác: