quan-doi-ta-vi-dan-chien-dau

Trong lịch sử lâu dài của dân tộc ta, dựng nước và giữ nước là truyền thống của các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Khi đất nước có chiến tranh thì mỗi người dân là một người lính sẵn sàng xả thân bảo vệ Tổ quốc, khi có hòa bình thì chung lưng đấu sức giữ gìn, chủ quyền lãnh thổ và xây dựng nên non sông gấm vóc tươi đẹp. Ðó là chủ nghĩa yêu nước của dân tộc ta.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được Bác Hồ phát huy và nâng cao trong thời đại mới. Tiếp thu ánh sáng lý luận cách mạng và chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Bác Hồ đã xây dựng và rèn luyện Ðảng ta làm đội tiền phong cách mạng dẫn dắt nhân dân ta làm cách mạng. Năm 1944, trước yêu cầu đấu tranh chống quân thực dân, phát xít, chuẩn bị lực lượng quân sự hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành chính quyền, Bác Hồ đã ra chỉ thị thành lập Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đó, được Bác Hồ, Ðảng ta giáo dục, nhân dân nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc, Quân đội nhân dân Việt Nam lớn mạnh và trở thành một đội quân anh hùng, bách chiến, bách thắng. Lịch sử đã ghi đậm những chiến thắng vẻ vang của quân đội ta, những chiến thắng có ý nghĩa quyết định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, mở ra tương lai phát triển của đất nước như chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Ðại thắng mùa Xuân 1975.

Trong hòa bình dựng xây Tổ quốc, quân đội ta trở thành một đội quân vừa công tác vừa sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ và giúp đỡ nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân đội nhân dân Việt Nam đã thấm nhuần sâu sắc lời Hồ Chủ tịch căn dặn sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, trên đường về tiếp quản Thủ đô, tại Ðền Hùng: Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quốc phòng toàn dân là lấy dân làm gốc, lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền quốc gia. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” cho nên “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì còn chiến đấu quét sạch nó đi”. Khi nước đã độc lập, dân có tự do thì quốc phòng toàn dân là giữ vững hòa bình, bảo đảm ổn định chính trị, an ninh xã hội, mở rộng quan hệ quốc tế để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Là người sáng lập quân đội cách mạng, Bác Hồ đặc biệt quan tâm giáo dục lực lượng vũ trang “trung với nước, hiếu với dân”. Người cho rằng, cán bộ, đảng viên trong quân đội hiếu với dân cũng như hiếu kính cha mẹ mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy, trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân và không có sức mạnh nào bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Lực lượng vũ trang muốn có sức mạnh thì phải dựa vào dân, phải biết quý sức dân, quý yêu chiến sĩ như anh em ruột thịt vì nhân dân đã giao con em cho quân đội. Sức mạnh giữ nước của nhân dân là rất to lớn, song sức mạnh đó chỉ được phát huy khi được Ðảng giác ngộ, quân đội làm nòng cốt và được tổ chức, huấn luyện.

Bác Hồ nhiều lần chỉ rõ rằng: Muốn có phong trào cách mạng của quần chúng bảo vệ Tổ quốc, phải đưa trình độ quần chúng từ thấp lên cao, từ giác ngộ cách mạng đến hành động cách mạng, phải đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh. Vận động quần chúng tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh Tổ quốc là một công việc gian khổ, vất vả. Muốn làm tốt công tác vận động quần chúng, trước hết phải có niềm tin mãnh liệt vào quần chúng, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, sâu sát quần chúng và lãnh đạo quần chúng nhân dân bảo vệ, giữ gìn chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới, lãnh thổ. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, mà trước hết là chủ quyền lãnh thổ là vô cùng thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Sự vững bền, ổn định chủ quyền là tiền đề, là điều kiện bảo đảm cho sự ổn định về chính trị, quốc phòng, an ninh, mở rộng bang giao tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước. Do đó, việc bảo vệ, giữ gìn chủ quyền quốc gia là sự nghiệp trọng yếu của toàn dân, trách nhiệm lớn thuộc về lực lượng vũ trang, là nghĩa vụ của mọi thế hệ công dân. Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia phải luôn được đặt trong một chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt phải coi trọng tăng cường quốc phòng, an ninh đối với địa bàn vùng biên giới, bờ biển, hải đảo với sự huy động lực lượng chuyên trách làm nòng cốt trong phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân để hình thành thế trận quốc phòng toàn dân trong xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ ra rằng, bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự xã hội là sự nghiệp “của dân, do dân, vì dân”. Nhiệm vụ xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng phong trào cách mạng của quần chúng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng là của toàn Ðảng, của cả hệ thống chính trị để nhân dân thực hiện, tham gia mới có hiệu quả. Nếu không có nhân dân tham gia thì không có lực lượng vũ trang nào có thể đảm nhiệm được nhiệm vụ quốc phòng, giữ gìn an ninh Tổ quốc trong điều kiện một đường biên giới trải dài và phức tạp về địa hình như nước ta. Việc xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng phong trào Bảo vệ an ninh Tổ quốc là cuộc vận động rộng lớn có ý nghĩa chiến lược quyết định thành bại đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, giữ vững an ninh quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bất kỳ việc to, việc nhỏ đều phải dựa vào lực lượng nhân dân. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung; là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt. Thí dụ: Một vạn công an chỉ có hai vạn tai, hai vạn mắt, hai vạn tay chân, nhưng nhân dân có hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay chân. Cho nên chúng ta phải dựa vào dân để hoạt động. Khi tổ chức được nhân dân, đoàn kết được nhân dân thì việc gì cũng làm được”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T9, tr.404).

Ngày nay, trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, chủ quyền quốc gia, trước hết là chủ quyền trên biên giới lãnh thổ có những yêu cầu mới. Nước ta có biên giới đất liền và vùng biển dài, rộng, cư dân miền núi vùng biên giới thưa, còn nhiều khó khăn, trước âm mưu phá hoại của các loại đối tượng phản động và tội phạm trên biên giới thì nhiệm vụ quản lý lãnh thổ, lãnh hải càng khó khăn, phức tạp. Lực lượng vũ trang và các lực lượng liên quan phải dựa vào 'tai mắt' nhân dân mới có thể kịp thời nắm bắt mọi diễn biến tình hình để có đối sách và biện pháp xử lý phù hợp.

Quân đội ta, lực lượng vũ trang ta cần thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân đã được thể hiện trong Văn kiện Ðại hội Đảng và nhiều nghị quyết Trung ương, nghị quyết của Quốc hội và của Chính phủ. Ðó cũng là nhiệm vụ của quân đội, lực lượng vũ trang phải thực hiện là “bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, văn hóa - tư tưởng và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội... ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”./.

Phạm Văn Khánh

Theo Báo Nhân Dân

Thanh Huyền (st)

Bài viết khác:

Bài viết liên quan:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

45055337
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
12731
64445
514290
45055337