Chỉ mục bài viết

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tấm lòng trân trọng, mối quan tâm sâu sắc giàu tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội. Người xác định vị trí “đầu tàu”, “gương mẫu” của Hà Nội mà “cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta” nên Người mong muốn làm sao để cho Hà Nội “thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”.

Hà Nội cũng là nơi ghi dấu những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Ngày 26-8-1945, Người từ chiến khu Việt Bắc về  Hà Nội và tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào. Hay “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước của Hồ Chủ tịch” ngày 17-7-1966, trong đó có câu nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý của thời đại. Rồi cũng ở Hà Nội, Bác Hồ đã viết những dòng Di chúc trước lúc đi xa, để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho dân tộc Việt Nam.

 Với vị trí địa lý và vai trò đặc biệt của mình, Thủ đô Hà Nội có vinh dự, tự hào vì là một trong những nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc lâu nhất, cũng là nơi có nhiều địa danh in dấu chân Bác và đã từng được Người dành sự quan tâm, đến thăm và căn dặn. Hầu hết các tầng lớp nhân dân, từ công nhân, nông dân, trí thức đến các chiến sĩ bộ đội, anh chị em dân quân, tự vệ, các nhân sĩ, trí thức, đồng bào tôn giáo, dân tộc, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên, nhi đồng, các chị lao công... đều được Bác gặp gỡ, thăm hỏi, động viên, khuyên nhủ ân cần. Qua các bài nói, bài viết, bức điện của Người hay những chuyến thăm của Người đều để lại những dấu ấn không thể nào quên.

Sau đây, Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng xin tổng hợp, trích đăng một số câu chuyện về tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Hà Nội và nhân dân Hà Nội trong thời kỳ Người sống và làm việc tại Thủ đô.

Phần 1

1. Trong đời tôi một bình minh đã đến

Cụ Võ An Ninh dẫn tôi về nhà riêng của cụ ở phố Ngô Gia Tự - Thành phố Hồ Chí Minh vào một ngày Xuân rất đẹp trời. Lão nghệ sĩ nhiếp ảnh tiếp tôi trong bốn giờ đồng hồ liền, thông cả buổi trưa, trong một không khí thân tình, cởi mở. Ông già ngoài 90 tuổi không hề tỏ ra mệt mỏi, mà trái lại, càng trò chuyện cụ càng sôi nổi. Bao kỷ niệm trong đời, trong nghề cứ cuồn cuộn… Tôi lắng nghe, ghi chép không ngừng tay, chỉ thỉnh thoảng dừng lại một chút, hỏi cụ vài ba chi tiết nào đó. Tôi cảm thấy đang đắm mình trong dòng ký ức vô tận của một nhân chứng lịch sử. Cuộc đời cụ Võ An Ninh trải dài gần hết cả thế kỷ XX đầy biến động. Cụ nói: “Tôi sinh năm 1907, cầm máy từ năm 25 tuổi. Tôi ra đời vào buổi bình minh của thế kỷ này, hăm hở bước vào với một sức sống và ước mơ mãnh liệt. Từ ước mơ, tôi hành động không ngừng, không nghỉ. Cả một đời chụp ảnh liên tục! Nằm mê cũng thấy mình chụp ảnh. 50 lần đến chùa Hương. 20 lần lên Sa Pa. Và biết bao lần tới Hạ Long, Đà Lạt. Cả đời tôi yêu thương và gắn bó với quê hương, với con trâu, đồng ruộng, ao bèo, với chiếc xe đạp, với chiếc áo dài của cô gái Việt Nam!”.

Càng nói, cụ càng say sưa. Nhất là khi cụ lật từng trang cuốn ảnh của cụ, giới thiệu cho tôi nghe ý tưởng và nội dung, kỷ niệm và vẻ đẹp của từng tác phẩm. Gương mặt cụ hồng hào và sinh động, tràn đầy vẻ phúc hậu, nhân ái. Thoáng trên nụ cười là một nét dí dỏm, hài hước.

Cụ bỗng dừng lại, nói một câu làm tôi thực sự xúc động:

“Tôi cất tiếng khóc chào đời trong buổi đầu thế kỷ. Nhưng, bình minh của đời tôi thực sự bắt đầu khi được gặp Bác Hồ và được chụp ảnh Người!”.

Cụ tỏ ra thật tự hào được là một trong những người đầu tiên chụp ảnh Bác Hồ trên đất nước Việt Nam. Hơi nheo mắt một chút, tay vuốt mái tóc bạc phơ, cụ kể:

“Ngày 02-9-1945, cả Hà Nội náo nức đón Lễ Độc lập. Ai cũng đứng vào hàng ngũ để được cuồn cuộn chảy về hướng Ba Đình, với cờ và khẩu hiệu trong tay. Tôi sẽ làm gì đây trong ngày hội lớn của dân tộc? Chụp, chụp và sẽ phải chụp thật nhiều ảnh. Cái đích của tôi là phải chụp được ảnh Cụ Hồ khi đang đọc Tuyên ngôn Độc lập, nếu không thì hỏng hết.

Đúng 2 giờ chiều, từ chân lễ đài, tôi nhìn các vị đại biểu dự lễ xuống xe và bước lên kỳ đài. Tôi thấy rất đông người và có nhiều người tôi không được biết tên… Tôi luýnh quýnh theo chân liền và hoàn toàn không bị ai ngăn cản. Trên kỳ đài, diện tích có vài mét vuông thôi mà hàng chục người đứng. Mọi người hình như chen vai thích cánh, hỏi như vậy làm sao tôi chụp được ảnh Cụ Hồ lúc đang đọc Tuyên ngôn Độc lập? Các vị dự lễ cũng rất tế nhị, khi tôi đang giơ máy lên, người đứng trước cũng khẽ nghiêng mình cho tôi chụp nhưng cái lưng khác lại che lấp ngay lập tức. Biết là không được, tôi vội tụt xuống cầu thang, đứng ôm máy dưới chân kỳ đài, nghĩ kế khác. Buổi lễ diễn ra trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ. Khi bài Tiến quân ca kết thúc, buổi lễ vừa dứt, tôi đã thấy một chiếc ôtô tiến sát vào chân kỳ đài. Xe đến đón Cụ Hồ, đi bên có ông Võ Nguyên Giáp. Đúng lúc Cụ Hồ và ông Giáp đã ngồi vào xe và xe chưa lăn bánh, tôi nhào tới đưa máy vào khoang cửa và nói: “Thưa Cụ, vừa rồi trên kỳ đài đông quá, con không chụp được ảnh Cụ. Xin Cụ cho phép con được lấy một hình của Cụ”. Cụ Hồ khẽ gật đầu. Nhưng lúc ấy Cụ Hồ đang đội mũ. Trời đã về chiều. Cái mũ cát vành rộng lại che đi mất nhiều ánh sáng. Tôi đánh liều:

“Thưa Cụ, con muốn Cụ hạ cái mũ xuống ạ!”.

Ông Giáp ngồi bên tủm tỉm cười như hiểu ý nguyện của tôi. Ông đưa tay lên hạ cái mũ của Cụ Hồ đang đội và nhìn tôi, nói: “Này, thì bỏ mũ xuống!”.

Thế là tôi có được bức ảnh “độc nhất vô song” trong cả cuộc đời gắn bó với nghệ thuật nhiếp ảnh: Cụ Hồ ngồi bên có ông Giáp, cả hai gương mặt đều cương nghị, nhưng hiền hòa, có chút khắc khổ vì những lo toan cho vận nước ở giờ phút ngàn cân treo sợi tóc. Hơn nữa, đây là tấm ảnh chụp vào ngày lịch sử muôn đời ghi nhớ của dân tộc ta, ngay sau khi Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập với quốc dân đồng bào cả nước và thế giới.

Cụ Võ đập khẽ vào tay tôi, chỉ lên tường: “Bức ảnh ấy đấy!”.

Tôi nhìn lên tấm ảnh to, đặt cạnh những khung to treo bằng Huân chương Độc lập và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Trên ảnh, Bác Hồ có cặp mắt sáng như sao và thật quắc thước, kiên nghị. Bộ râu Bác còn đen. Ông Võ Nguyên Giáp ngồi bên, đội mũ phớt, thắt cavát. Tôi thật sung sướng được cụ Võ An Ninh tặng cho tấm ảnh này. Cụ nói tiếp: “Tôi đã chụp nhiều người, kể cả vua chúa. Tôi là người có may mắn chụp ba vua cuối cùng của Việt Nam là Vua Khải Định, Vua Thành Thái và Vua Bảo Đại. Tôi chụp Vua Thành Thái, một ông vua yêu nước chống Pháp vào năm 1951, khi Pháp đưa ông Vua ấy từ nơi đảo xa trở về. Khi ấy Vua Thành Thái đã khoảng 80 tuổi, một mắt đã bị kéo màng. Cả những người khác nữa, tôi chụp nhiều, nhiều lắm, nhưng không một ai có cặp mắt tinh anh và đặc biệt như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một phòng triển lãm ảnh về ngày Lễ Độc lập đã được tổ chức tại phố Tràng Tiền - Hà Nội ngay sau ngày 02-9-1945. Một cán bộ Việt Minh đồng thời cũng là bạn tôi thấy tôi có bức ảnh quý đó nên vồ vập liền. Ông ta treo bức ảnh Cụ Hồ và ông Võ Nguyên Giáp ở chỗ trang trọng nhất của phòng triển lãm.

Thời đó, mỗi khi có triển lãm, nhất là những triển lãm về đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chúng thường đi xem rất đông, cho nên bức ảnh nói trên được nhiều người biết đến. Riêng tôi, do thời cuộc, đã để thất lạc cả phim tấm ảnh gốc đó. Nhưng may mắn sao, tôi đã gặp lại tấm ảnh đáng quý nhất của đời mình được in trong một cuốn hồi ký viết gần đây của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và tôi đã “sao” lại tấm ảnh, tác phẩm của chính mình. Cũng như “bạn” (cụ Võ gọi tôi như vậy - T.Đ), khách đến thăm nhà không ai không ngước mắt nhìn lên tấm ảnh này mà gia đình tôi đã trân trọng treo ở giữa phòng khách. Những đốm nắng chiều rơi trên khuôn mặt hai nhà cách mạng trở thành những yếu tố thật kỳ diệu như khắc họa một thời gian khó và quyết liệt của cả một dân tộc mà Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều vị khác là những nhân vật đại diện”.

Sau sự kiện cụ Võ An Ninh kể trên đây chừng 14 tháng, cụ còn là nhà báo ghi lại được những giây phút đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp trở về ngày 21-10-1946 trên chiếc tuần dương hạm Dumont d’Uwille của thực dân Pháp, sau khi Người ký Hiệp ước ngày 6-3 với thực dân Pháp tại Phôngtenơbnô và trở về Việt Nam. Tờ nhật báo buổi chiều Vì nước mà Chủ nhiệm lúc đó là ông Nguyễn Đức Thuyết đóng ở số nhà 84 phố Hàng Bột (Hà Nội) đã mời cụ thực hiện một thiên phóng sự ảnh. Số báo ra ngày 25-10-1945, dành hai trang đăng trọn vẹn phóng sự 21 ảnh về sự kiện lịch sử này. Qua lời cụ Võ kể, nhân dân Hải Phòng có vinh dự được đón Bác Hồ ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân còn non trẻ. Mọi người nhiệt liệt chào mừng vị lãnh tụ kính yêu trở về sau hơn bốn tháng hoạt động trên đất Pháp. Giờ đây, Người lưu lại thăm đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Hải Phòng hai ngày. Cụ Võ An Ninh đã được đi theo cụ Nguyễn Văn Tố về thành phố cảng, đêm ngủ trên cái sập một nhà dân, sau mới biết đó chính là nhà của nhà thơ Lê Đại Thanh. Cụ Tố là Bộ trưởng của Chính phủ Hồ Chí Minh, vốn là thầy dạy tiếng Pháp của cụ Võ An Ninh. Học Tây học, nhưng cụ Tố không mặc đồ Pháp mà mặc áo dài trắng, chít khăn và đặc biệt không biết đi xe đạp. Cụ Võ An Ninh kể:

“Tôi còn nhớ rõ như mới ngày gần đây thôi, những giờ phút thiêng liêng ấy… vừa cập Bến Ngự, chiếc tuần dương hạm cùng lúc với Hải Phòng rung lên một hồi còi làm trong lòng mọi người bừng dậy một niềm ấm áp, tự hào, và cũng nghẹn ngào vì sung sướng, nhất là lúc vị Chủ tịch đặt chân đầu tiên trên đất quê nhà. Nhân dân Hải Phòng đã được sống những ngày đẹp nhất bên vị lãnh tụ kính yêu.

Dọc đường từ Hải Phòng về Hà Nội, chao ôi, đâu đâu cũng thấy người, cờ và biểu ngữ. Lúc này, tôi sung sướng lắm, được đi lại thoải mái trên tàu hỏa và chụp ảnh thì… nhiều khỏi phải nói. Trong toa tàu, không một phút nào Người ngưng tay vẫy, không một phút nào ngớt trả lời cho dân chúng, từ các cụ phụ lão, binh sĩ, viên chức, phụ nữ, thanh niên cho đến các cháu nhi đồng, và đặc biệt là cho giới báo chí. Đến Hải Dương, tàu dừng lại nửa giờ. Đúng 3 giờ 5 phút, đoàn tàu chuyển bánh tới Thủ đô Hà Nội. Lúc bước ra, Bác không giấu nổi cảm động trước một biển người và rừng cờ, xen lẫn trong những tiếng reo vui sung sướng: “Bác đã về”…”.

Cụ Võ An Ninh cho phép tôi xem kỹ từng tấm ảnh trong bộ phóng sự đó. Đây là hình ảnh các vị ra đón Bác ở Hải Phòng: Cụ Nguyễn Văn Tố, ông Võ Nguyên Giáp, ông Trần Huy Liệu, ông Vũ Đình Hòe, ông Nghiêm Kế Tổ, ông Phạm Văn Bạch và Đại tá Lami, đại diện cho các nhà đương cục Pháp; hình ảnh Bác Hồ bước xuống, giữa tiếng hô vang chào mừng của dân chúng; và đây là hình ảnh Người hút thuốc trong phòng riêng trên tuần dương hạm, bên trái Người là ông Hoàng Hữu Nam, Trưởng ty Liên kiểm Trung ương cùng ông Chủ tịch Ủy ban hành chính Hải Phòng lên tiếp rước Người… Những tấm ảnh, những tư liệu vô cùng quý giá. Những tác phẩm này cũng như toàn bộ cống hiến bằng hoạt động nhiếp ảnh của cụ Võ thật xứng đáng được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Tôi xin phép hỏi cụ Võ:

- Sau sự kiện này, cụ có còn dịp nào được chụp ảnh Bác Hồ không?

- Có chứ! Chủ yếu là ở Hà Nội. Tôi đã được hướng dẫn Bác và phái đoàn Đồng minh đi xem triển lãm 40 bức ảnh tôi chụp về nạn đói năm 1945, phóng cỡ 18x24cm để trong tủ kính. Bác đọc kỹ từng chú thích ảnh. Đến bức ảnh Nhật cướp xe gạo, Bác bảo: “Thôi, cướp xe, không nên…”. Hôm ấy thật tiếc, trời hơi tối, tôi không chụp được Bác. Tôi còn được theo Bác chụp ảnh Người đi thăm Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Nhân dân. Bác đi nhanh lắm, tôi không theo kịp, vì một chân bị bỏng mà! Tôi nhớ nhất cái lần một đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số về Hà Nội chào mừng Bác. Hôm ấy thì có tôi chụp. Bác đến chỗ tôi, nói vui:

- Này, hình như cái vừa chụp bị hỏng rồi!

- Dạ vâng, hình như cái đó hơi rung. Con xin Bác cho chụp lại!

Bác cười: Được!

Trong những năm 20 của thế kỷ này, khi bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Bác cũng từng làm thợ ảnh, cho nên Người rất quan tâm đến chúng tôi. Nhiều khi thấy tôi đến, Bác bảo chú Ninh phải chụp thế này thế kia, không thì hỏng đấy!

Trong các buổi chiêu đãi, có lần Bác đến nói:

- Chú Ninh ăn đi chứ. Cứ chụp mãi! Câu nói ấy thể hiện tình yêu thương, chăm sóc của người cha, làm tôi vô cùng cảm động và nhớ mãi. Một lần khác, bác sĩ riêng của Người mang bánh đến cho tôi giữa bữa tiệc: “Cụ bảo mời ông ăn!”.

Vâng, cả dân tộc ta, trong đó có chúng tôi, sung sướng trở thành những người dân được hưởng Độc lập, Tự do mà Hồ Chủ tịch là người trọn đời phấn đấu để đem lại. Là người nhiếp ảnh, tôi đã sống và ghi lại những hình ảnh của buổi bình minh vẻ vang đó. Tôi cũng từng nghĩ: Những ngày được gần Người - Chủ tịch Hồ Chí Minh - là những ngày có giá trị tỏa sáng đến suốt cuộc đời. Ánh sáng đó rọi từ buổi bình minh của một kỷ nguyên mới. 

(Trích từ cuốn sách: Còn mãi những khoảnh khắc, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998).

2. Người Hà Nội nhớ Bác

Cả Hà Nội hôm ấy tưng bừng đón ngày tuyên bố độc lập mồng 02-9. Đồng bào ngoài thành từ bốn cửa ô kéo về tấp nập. Các cô nữ dân quân đầu chít khăn vuông mỏ quạ, áo nâu, quần đen, nai nịt gọn gàng, đi trong tiếng hô. Đoàn phụ nữ nội thành, áo dài đủ màu, quần trắng tha thướt. Đội nữ du kích ở chiến khu về, khăn áo màu chàm, vai đeo khẩu súng, nom rất hùng dũng. Các em thiếu nhi, quần xanh áo trắng, tiến theo tiếng trống ếch nhịp nhàng. Các đội tự vệ, thanh niên đầu đội mũ calô, vai vác gươm, vác gậy bước đi hiên ngang. Rồi đến đoàn các vị sư sãi, mũ ni, áo cà sa màu vàng, màu nâu; đoàn các vị cha cố, bà xơ, toàn một màu đen hoặc trắng. Gần 50 vạn người vui mừng kéo tới Quảng trường Ba Đình dự ngày lễ lịch sử trọng đại.

Quảng trường chật ních người, cờ, khẩu hiệu, tưng bừng náo nhiệt. Lễ đài đặt trên bục gỗ cao, bên dưới là đội danh dự bồng súng hướng vào Quảng trường.

Tôi đang đứng ở hàng đầu của đoàn đại biểu phụ nữ Thủ đô, bỗng có tiếng gọi:

- Cô Thi! Lên lễ đài, mau lên!

Tôi giật mình, ngơ ngác, chưa hiểu ra sao. Các chị lại giục: Lên ngay đi! - Tôi vội vàng đi theo người hướng dẫn. Thì ra ban tổ chức đang cần một đại biểu phụ nữ Thủ đô, cùng với một chị nữ du kích ở chiến khu về, lên kéo cờ trong buổi lễ lịch sử này. Nhờ vậy mà tôi được nhìn thấy Bác, được nghe Bác nói rất rõ. Từ đó, hình ảnh Bác, đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, mãi mãi in sâu vào tâm trí tôi.

Chị nữ du kích người Tày và tôi phân công nhau: Tôi cầm dây cờ chuẩn bị kéo, còn chị sẽ nâng lá cờ. Chúng tôi nhìn nhau, hồi hộp, lo lắng về trách nhiệm của mình.

Tôi chợt nhớ đến lúc còn đi học ở Trường Đồng Khánh (tức Trường Trưng Vương hiện nay) sáng nào mụ giám đốc người Pháp cũng bắt học sinh tề tựu ở sân trường để chào cờ: cờ Pháp và cờ An Nam của Bảo Đại. Sau đó nghe mụ mắng mỏ, lên lớp chúng tôi về tội nghịch ngợm, hạnh kiểm xấu, v.v.. Còn học sinh thì ra sức trêu tức mụ. Không hôm nào cờ kéo lên trót lọt, lúc thì cờ Pháp bị tắc tị, lúc thì cờ Pháp lên chậm hơn cờ An Nam, lúc thì cả hai cờ bị đứt dây! Mụ giám đốc tức điên ruột!

Hôm nay, tôi chuẩn bị rất cẩn thận và ước sao gặp mọi sự may mắn để kéo được lá cờ lên thật êm đẹp, nhịp nhàng.

Giờ khai mạc đã đến! Đoàn đại biểu của Chính phủ Cách mạng lâm thời bước lên lễ đài, trong đó có Bác. Nhưng tôi đâu dám ngoảnh lại nhìn, vì còn đang tập trung tư tưởng vào dây cờ cầm trong tay.

Nhạc Tiến quân ca nổi lên hùng tráng. Chúng tôi bắt đầu kéo. Lá cờ đỏ sao vàng từ từ lên cao rồi tung bay cuồn cuộn trước gió thu lồng lộng, trong ánh nắng vàng rực rỡ.

Làm xong nhiệm vụ, chúng tôi rút về phía sau lễ đài. Bác Hồ bước ra giữa tiếng hoan hô vang lừng cả Quảng trường. Bác giơ tay vẫy chào đồng bào vừa ra hiệu cho mọi người giữ trật tự và bắt đầu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập: “… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…”1.

Tôi ngắm nhìn Bác, vừa ngạc nhiên, vừa xúc động. Bác gầy quá, mặc giản dị quá! Bộ quần áo kaki! Quen sống ở Hà Nội, tôi cứ tưởng vị Chủ tịch nước sẽ phải trịnh trọng trong bộ âu phục sang trọng, thắt cavát, đi giầy vécni bóng nhoáng.

Giọng Bác rất ấm, tiếng Bác khi thì đanh thép tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp trong 80 năm cai trị nước ta, lúc lại xót xa với những nỗi cực khổ mà nhân dân ta đã phải chịu đựng. Bất ngờ, Bác hỏi: - Tôi nói đồng bào nghe có rõ không?

Lâu nay sống dưới chế độ nô lệ, dân ta, kể cả tôi dù mới chỉ là cô nữ sinh, cũng chỉ quen nghe các “quan” cai trị, bọn cầm cò, bọn giám đốc trường quát tháo, mắng mỏ. Chúng nói, mình nghe chưa hiểu là bị tạt tai luôn. Tôi muốn kêu lên: Thưa Bác, cháu nghe thấy rồi ạ! Trời ơi! Sao Bác còn phải hỏi thế nhỉ!

Ngay những phút đầu tiên, Bác đã để lại cho tôi những ấn tượng hết sức sâu sắc về một tấm lòng thương yêu nhân dân không bờ bến, một ý chí cách mạnh kiên cường, và một sự trong sáng, giản dị trong nếp sống.

Bác kết thúc bản Tuyên ngôn bằng một lời tuyên bố “Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập"2 và một lời thề cương quyết: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”3.

Cả Quảng trường vang lên tiếng hô đáp lại: Việt Nam độc lập muôn năm! Ủng hộ Mặt trận Việt Minh! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Cuộc chiến đấu đã bắt đầu ngay sau đó. Đêm 23-9, tiếng loa khắp các phố báo tin giặc Pháp được đế quốc Anh hủng hộ, đã gây hấn ở Nam Bộ. Cả Hà Nội rung lên vì xúc động và căm phẫn. Một bài hát lan truyền nhanh chóng:

“Tiếng súng vang sông núi miền Nam.

Ầm đất nước Việt Nam.

Tiếng súng vang dội khắp non sông,

Giục ta ra tranh đấu…”.

Nghe theo lời kêu gọi của Bác, của Chính phủ, thanh niên nam nữ bừng bừng khí thế “Nam tiến”. Chiều chiều, trên sân ga Hàng Cỏ Hà Nội rộn rịp cảnh tiễn đưa những đoàn tàu chở những người con yêu quý vào Nam giết giặc, giữa những lời ca:

“Ta muốn băng mình tới phương Nam,

Xé xác quân tham tàn…”.

Rồi Hà Nội đi vào cuộc đấu tranh chính trị phức tạp, quyết liệt với giặc ngoài, thù trong. Bọn chúng rất ngỗ ngược, cướp bóc, hoạnh họe nhân dân, chửi bới Việt Minh, nói xấu Bác. Chúng tôi, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, tự vệ rất căm giận, muốn kéo đến phá tan trụ sở của chúng. Nhưng Bác không cho phép. Bác ra chỉ thị rất nghiêm khắc: Mọi người phải bình tĩnh, không để bọn chúng khiêu khích, phải chờ thời cơ, đợi lệnh của Chính phủ.

Cuối tháng 5-1946, tình hình chính trị rất căng thẳng, Bác Hồ chuẩn bị sang Pháp đàm phán với Chính phủ Pháp về hòa bình và độc lập của nước ta. Bọn phản động phao tin đồn Chính phủ ta ký hiệp định với Pháp là bán nước. Ngày 31-5, trong cuộc míttinh tổ chức trước quảng trường Nhà hát thành phố, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào cả nước về chuyến đi này. Bác nói:

“Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”4.

Vừa nghe Bác nói, tự nhiên tôi đã trào nước mắt ra. Bác càng nói, tôi càng khóc. Tôi ôm lấy người bạn đứng bên cạnh, hai chúng tôi cùng thút thít. Vì sao vậy? Tôi thấy đau khổ và bất bình quá. “Bác ơi, chúng con hiểu tấm lòng Bác lắm rồi!”. Tôi căm giận bọn phản động Quốc dân Đảng, bọn Nguyễn Hải Thần, chúng chỉ có ăn chơi, trụy lạc lại còn phản tuyên truyền, hoạt động làm hại cho dân tộc, cho đất nước.

Hôm đó về, với tất cả sức mạnh của tình cảm cách mạng và tấm lòng kính yêu Bác, tôi hăng hái đi giải thích ở nhiều khu phố về quyết tâm của Chính phủ và Hồ Chủ tịch giữ vững độc lập, tự do của đất nước. Những sự nhân nhượng, hòa hoãn lúc này đối với bọn thực dân Pháp là nhằm tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng hùng mạnh.

Những ngày cuối năm 1946, cả Hà Nội ráo riết chuẩn bị chiến đấu. Chi bộ khu Hoàn Kiếm chúng tôi họp bất thường luôn để nhận định tình hình, thảo luận chủ trương công tác đối phó hằng ngày với địch. Ngày 19-12, tiếng súng nổ ran cả Thủ đô, mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

Giặc Pháp tưởng rằng chỉ đánh một ngày là chiếm xong cả Hà Nội. Nhưng chúng lầm to. Nhân dân ta chiến đấu rất dũng cảm, cầm cự với chúng ở tất cả các khu phố nội thành. Chúng tôi ở Liên khu I, tuy bị địch bao vây tứ phía, cắt đường liên lạc với các liên khu khác, với hậu phương, nhưng vẫn không nao núng. Đội ngũ được chấn chỉnh, tổ chức lại. Một số đồng chí được lệnh rút ra ngoài. Tôi sung sướng được thuộc vào số người ở lại, phụ trách một tổ bốn chị em, làm công tác tuyên truyền, úy lạo của Trung đoàn. Chúng tôi tham dự lễ “Quyết tử” giữ vững Thủ đô đến giọt máu cuối cùng!

Tết âm lịch năm đó (khoảng 27-1-1947), chúng tôi ăn Tết trong vòng vây của địch. Một niềm vui vô hạn đã đến với chúng tôi. Đúng đêm giao thừa, các chị giao liên đã vượt qua muôn ngàn khó khăn, nguy hiểm đem tới cho các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô bức thư chúc Tết của Bác Hồ và quà của đồng bào hậu phương.

Thư Bác viết: “Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tuôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại…

Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em…”5. Tôi lại khóc, khóc vì cảm động và sung sướng trước sự quan tâm săn sóc của Bác, của đồng bào hậu phương. Làm sao đáp lại được tình cảm yêu quý đó, làm sao cho xứng đáng với sự tin cậy, mong chờ đó của Bác, của cả nước!

Ngày 17-2-1947, sau hai tháng chiến đấu làm cho địch bị tổn thất nặng nề, đánh tan mộng tưởng của thực dân Pháp định chiếm nước ta trong một thời gian ngắn, Trung đoàn Thủ đô được lệnh của Bác và Chính phủ rút ra ngoài để bảo toàn lực lượng. Đêm không trăng sao. Gió bấc mưa phùn. Cả Trung đoàn chúng tôi gần nghìn người đã rút đi an toàn.

Từ lúc đó, tôi ra khỏi quân đội, nhận công tác mới: phụ trách phụ nữ tỉnh Vĩnh Yên rồi sau lên Tuyên Quang.

Năm 1950 tôi được cử đi Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất. Tôi lại được vinh dự gặp Bác Hồ đến thăm Đại hội!

Tôi vô cùng xúc động, mắt ướt tay cứ ghi cho hết những điều Bác dạy, vì đây cũng là lần thứ nhất trong đời hoạt động của tôi được đi dự một đại hội đông đảo thế này mà lại được gặp Bác. Từ buổi đầu tiên gặp Bác ở Quảng trường Ba Đình ngày 02-9-1945 đến nay, đứa cháu gái của Bác đã tự cảm thấy mình đã trưởng thành về nhiều mặt. Từ một cô học sinh hăng hái bồng bột nhưng còn rất ngốc nghếch, nay tôi đã trở thành một cán bộ phụ nữ có đôi chút kinh nghiệm, một đảng viên vài tuổi Đảng. Dù sao, cháu vẫn là người con gái Thủ đô, xin hứa với Bác quyết giữ vững lời thề ngày Độc lập năm xưa.

Sau Đại hội, tôi nhận được quyết định trở về Hà Nội công tác. Tôi rất sung sướng. Nhưng ngày lên đường từ giã Việt Bắc, nơi Bác Hồ và Trung ương Đảng ở, nơi mà tôi đã sống trong tình thương yêu của bạn bè đồng chí để về xuôi, trở về sống trong vùng tạm bị địch chiếm, tôi cũng thấy nao nao, xúc động.

Trước đây, tôi tưởng mình sẽ trở lại Hà Nội cùng anh em bộ đội chiến đấu để giải phóng Thủ đô và sẽ bước đi qua các phố giữa tiếng hoan hô của nhân dân. Nhưng không, bây giờ tôi lại phải đóng vai một người “hồi cư” về với gia đình để chữa bệnh. Sau đó làm một nghề gì, dạy học tư, đan len, sống hợp pháp, che mắt địch để bí mật gây cơ sở, vận động phong trào phụ nữ. Cuộc chiến đấu của tôi với kẻ địch bây giờ không phải “quyết tử” bằng súng ống mà âm thầm, sống hoạt động bí mật trong sự che chở đùm bọc của nhân dân Hà Nội.

Trong tâm trí người Hà Nội không bao giờ phai mờ hình ảnh Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Ba Đình. Qua những câu chuyện thì thầm, người ta hỏi thăm nhau Bác sống ra sao, sức khỏe Bác thế nào? Tôi rất muốn khoe là tôi vừa được gặp Bác ở Đại hội phụ nữ. Nhưng đâu dám. Tôi thường chỉ trả lời: Tôi nghe kể lại v.v..

Một hôm, chị Xuân, một người bạn cũ của tôi, buồn rầu kể chuyện là đang dạy học ở vùng tự do, phải theo bố mẹ về đây. Anh chị vẫn đi bộ đội ở ngoài ấy. Chị cho tôi xem một tập ảnh gia đình và cuối cùng rút ra một tấm ảnh Bác, để giữa hai lần giấy cứng của bìa sách. “Bác vẫn ở trang đầu tập ảnh của gia đình tôi”. Chị nói vậy.

Tôi cũng có một tập ảnh - vật quý nhất trong tất cả các tài sản nhỏ bé đựng trong chiếc balô của tôi - trong có một chiếc ảnh Đại hội phụ nữ. Tập ảnh tôi giữ gìn, đem từ Việt Bắc về, nhưng cuối cùng phải để lại cho bạn giữ hộ ngoài vùng căn cứ vì không thể mang vào đây được. Tôi ngắm nhìn Bác, cảm động vì lâu quá cũng không được thấy ảnh Bác. Cảm động hơn nữa là hiểu được lòng người dân ở đây, vẫn ngày đêm nhớ Bác, vẫn giữ gìn tấm ảnh Bác như vật gì quý báu nhất của đời mình.

Xuân còn cho biết có người bạn đã cắt được những tấm ảnh Bác trên báo Cứu quốc cũ năm 1945 - 1946, trước khi bố mẹ cô đem đốt báo đi. Thế là từ chuyện tấm ảnh Bác, chúng tôi nói đến kháng chiến, đến cách mạng. Dần dà Xuân đã trở thành một cơ sở đáng tin cậy. Chị liên hệ với một nhóm cảm tình tham gia quyên tiền ủng hộ bộ đội, tham gia chống bắt lính. Đến khi chúng tôi ra tờ báo Phụ nữ Thủ đô viết tay in bằng thạch, thì đã có lần tôi nhờ Xuân tô lại hình ảnh Bác để đưa vào một số tờ báo kỷ niệm ngày 19-5-1953.

Ngày sinh nhật Bác, ngày Độc lập 02-9, bấy giờ chúng tôi không tổ chức treo cờ, rải truyền đơn như trước kia nữa. Nhưng thường có những cuộc họp mặt ăn kẹo, uống nước chè nói chuyện về Bác, về chiến sự. Có những gia đình cơ sở tổ chức kỷ niệm dưới hình thức ngày giỗ, ngày sinh nhật con trai, ngày ăn hỏi con gái, v.v.. Mẹ Thuận, con gái làm công nhân hãng dệt Cự Doanh, con trai đi kháng chiến, thắp vài nén hương cầu trời, cúng Phật cho “Cụ Hồ được mạnh khỏe, sống lâu” để cách mạng chóng thắng lợi, gia đình được sum họp.

Xa xôi cách trở, bà con vẫn nghĩ Bác sống ở núi rừng Việt Bắc tuổi già liệu có khỏe không, chắc vất vả nhiều lắm. Chị em lao động, buôn thúng bán mẹt tuy làm ăn vất vả, chạy ngược chạy xuôi mới đủ nuôi gia đình nhưng vẫn cố dành tiền mua quà gửi biếu Bác, tặng bộ đội. Có lần chị Thúy Hạnh báo tin cho tôi là chị em ở chợ Đồng Xuân đã mua gửi ra vùng tự do năm mét lụa tơ tằm để chuyển lên Việt Bắc kính biếu Bác.

Và sung sướng biết bao đến ngày lễ mừng Giải phóng Thủ đô, tôi lại được nhìn thấy Bác tại Quảng trường Ba Đình, cũng như ngày 02-9 năm xưa, nhưng lại khác xưa bao lần. Những con người đang đứng ở đây, kể cả tôi, đã thay đổi, già dặn lên bao nhiêu sau chín năm trường kỳ kháng chiến. Đội ngũ của ta lớn mạnh thêm rất nhiều. Uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, của Đảng, của Bác đã vang lừng trên thế giới.

(Dương Thoa, trích từ cuốn sách: Nước non bừng sáng,
Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1975).

Khánh Linh (tổng hợp)
Còn nữa

Chú thích:

1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.555.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.557.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.240.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.35-36.


 3. Hà Nội mồng 02-9-1945

Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ, đèn và hoa. Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ những rặng cây, đỏ những mặt hồ.

Biểu ngữ bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nga chăng khắp các đường phố: "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Đả đảo chủ nghĩa thực dân Pháp", "Độc lập hay là chết", "Ủng hộ Chính phủ lâm thời", Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh", "Hoan nghênh phái bộ Đồng minh"...

Các nhà máy, các cửa hiệu buôn to, nhỏ đều nghỉ việc. Chợ búa không họp. Mọi hoạt động buôn bán, sản xuất của thành phố tạm ngừng, đồng bào Thủ đô già, trẻ, gái, trai đều xuống đường. Mọi người đều thấy mình cần phải có mặt trong ngày hội lớn đầu tiên của đất nước.

Những dòng người đủ mọi màu sắc, từ khắp các ngả kéo về vườn hoa Ba Đình.

Đội ngũ của những người thợ quần xanh, áo trắng, tràn đầy sức mạnh và niềm tin. Người lao động bình thường hôm nay đến ngày hội với tư thế đường hoàng của những người làm chủ đất nước, làm chủ tương lai.

Hàng chục vạn nông dân từ ngoại thành kéo vào. Những chiến sỹ dân quân mang theo côn, kiếm, mã tấu. Có những người vác theo cả những quả chùy đồng, những thanh long đao rút ra từ những giá vũ khí bày để trang trí trong các điện thờ. Trong hàng ngũ của các chị em phụ nữ nông thôn với những bộ quần áo ngày hội, có những người vấn khăn vàng, mặc áo tứ thân, thắt lưng hoa lý. Cũng chưa bao giờ người nông dân ở những làng xóm nghèo quanh Hà Nội đi vào thành phố với một niềm tự hào như ngày hôm ấy.

Những cụ già vẻ mặt nghiêm trang. Những cô gái Thủ đô hớn hở, áo màu rực rỡ.

Rộn ràng là các em thiếu nhi. Dù sự giàu nghèo của mỗi gia đình chưa đổi khác, nhưng từ ngày hôm nay, tất cả các em đều trở thành những người chủ nhỏ của đất nước độc lập. Theo nhịp còi của các anh, các chị phụ trách, các em khua rền trống ếch, dậm chân bước đều, hát vang những bài ca cách mạng.

Những nhà sư, những ông cố đạo cũng rời nơi tu hành, xuống đường, xếp thành đội ngũ đến dự ngày hội lớn của dân tộc.

Nắng mùa thu rất đẹp trên Quảng trường Ba Đình từ giờ phút này đã đi vào lịch sử. Đội danh dự đứng nghiêm trang chung quanh lễ đài mới dựng. Các chiến sỹ Quân giải phóng bữa trước theo Quân lệnh số 1 của Uỷ ban Khởi nghĩa, từ Tân Trào tiến về phía Nam "đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch". Hôm nay, họ đã đứng sát cánh cùng các đội tự vệ của công nhân thanh niên và lao động Thủ đô bảo vệ Chính phủ lâm thời.

Sau bao năm bôn ba khắp thế giới, mang án tử hình của đế quốc Pháp, qua mấy chục nhà tù và những ngày dài gối đất nằm sương, Bác đã trở về ra mắt trước một triệu đồng bào. Sự kiện lịch sử này mới hôm nào còn ở trong ước mơ.

Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã ra mắt đồng bào như một lãnh tụ lần đầu xuất hiện trước đông đảo quần chúng.

Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo kaki cao cổ, đi dép cao su trắng.

Mấy ngày hôm trước, một vấn đề được đặt ra là phải có một bộ quần áo để Bác mặc khi Chính phủ ra mắt đồng bào. Cuối cùng, Bác đã chọn bộ quần áo này. Hai mươi bốn năm làm Chủ tịch nước, trong những ngày lễ lớn của dân tộc, trong những cuộc đi thăm nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất hiện với một hình ảnh giản dị, không thay đổi. Vẫn bộ quần áo vải, trên ngực không một tấm huân chương, y như lần đầu Bác đã ra mắt đồng bào.

Ông Cụ có dáng đi nhanh nhẹn. Dáng đi này cũng làm cho đôi người lúc đó hơi ngạc nhiên. Họ đã không nhìn thấy ở vị Chủ tịch dáng đi trang trọng của những người "sang". Giọng nói của Ông Cụ phảng phất: Giọng nói của một miền quê đất Nghệ An.

Bác đã xuất hiện trước một triệu đồng bào ngày hôm đó như vậy.

Lời của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc chiết, rõ ràng. Không phải là cái giọng hùng hồn người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng. Nhưng người ta tìm thấy ngay ở đó những tình cảm sâu sắc, ý chí kiên quyết; tất cả đều tràn đầy sức sống; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người.

Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi:

- Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?

Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm:

- Co.o.ó!

Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một. 

Đây là bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa giành được độc lập bằng cuộc chiến đấu suốt 80 năm của dân tộc. Đây còn là những lời lẽ tâm huyết, đầy cảm kích của đội tiên phong giác ngộ nhất của giai cấp cách mạng nhất, có những người con tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của dân tộc, trước máy chém, trước miệng súng của quân thù, đã từng giật tấm băng đen bịt mắt, hô lớn: "Việt Nam độc lập muôn năm!".

Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề Độc lập:

- Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: "Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh".

- Chúng tôi xin thề: "Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng".

- Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề:

"Không đi lính cho Pháp,

Không làm việc cho Pháp,

Không bán lương thực cho Pháp,

Không đưa đường cho Pháp!".

Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hòa làm một. Đó là lời thề của toàn dân kiên quyết thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa đọc để kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập:             

"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

"Bản án chế độ thực dân Pháp" đã có từ 30 năm trước đây. Nhưng hôm nay mới chính là ngày chế độ thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn dân Việt Nam công khai xét xử.

Lịch sử đã sang trang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Bản đồ thế giới phải sửa lại vì sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cùng với cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra trong suốt hạ tuần tháng 8, ngày Độc lập mồng 02-9 đã có một ý nghĩa cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị, tinh thần của dân tộc.

Điều lo lắng của Bác trước đây 30 năm: "Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh", hôm nay, không còn là điều khiến cho Người phải băn khoăn. Cả dân tộc đã hồi sinh.

Độc lập, tự do đã đến với mỗi người dân. Mỗi người đã thấy được giá trị thiêng liêng của nó, thấy trách nhiệm phải bảo vệ. Vô vàn khó khăn còn ở trước mắt. Nhưng đối với bọn đế quốc, muốn phục hồi lại thiên đàng đã mất, mọi việc cũng không còn dễ dàng như xưa...

(Hữu Mai ghi, trích từ cuốn sách: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1990).

4. Đuổi ruồi mà không vỡ bình

Sau Cách mạng Tháng Tám, quân Tàu Tưởng đại diện Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất chúng gây nhiều khó khăn cho chính quyền non trẻ của ta. Ngày nào hầu như cũng có bọn Tưởng đòi gặp Bác để yêu sách, quấy nhiễu. Nhìn chúng ngông nghênh, hống hách, chúng tôi căm lắm, nhưng vẫn phải nén giận làm lành. Nhưng bọn chúng được đằng chân lại muôn lân đằng đầu, thấy ta nhân nhượng chúng càng lấn tới. Chúng đã khiêu khích cả đơn vị bảo vệ Bác. Một lần anh em đi tập luyện, khi qua trạm kiểm soát của bọn Tưởng, chúng liền ngăn lại, đòi thu vũ khí và giữ một vài đồng chí. Ở nhà nghe tin, anh em chúng tôi bất bình lắm. Có người bực bội nói:

- Chúng đến nước ta đã không tôn trọng chủ quyền lại còn ngang ngược. Ta phải cho chúng một bài học để hiểu rằng không phải đến đây muốn làm gì cũng được!

Thấy chúng tôi bàn tán, Bác biết chuyện. Người hỏi:

- Các chú thấy ruồi nhặng có đáng ghét không?

- Thưa Bác, nó bẩn và hôi hám lắm ạ!

- Thế các chú có chiếc bình thủy tinh đẹp mà ruồi nhặng bậu vào thì làm thế nào?

Mỗi người trả lời theo cách riêng của mình.

Nghe xong các ý kiến, Bác ôn tồn giải thích:

- Chúng ta vừa mới giành được độc lập ví như chiếc bình quý, nhưng đang bị bọn ruồi nhặng làm bẩn. Nếu ta đập mạnh thì bọn ruồi chết nhưng vỡ bình. Vì vậy phải làm cách nào đuổi được ruồi mà không bị vỡ bình. Các chú phải bình tĩnh. Việc này Bác đã bảo các chú chỉ huy đơn vị giải quyết.

Chúng tôi đều hiểu ý nghĩa lời khuyên của Bác, từ đó cố tránh những va chạm không cần thiết và giữ được thái độ kiên nhẫn khi bị bọn chúng khiêu khích.

(Theo Hoàng Hữu Kháng, Phạm Bạn ghi, trích trong cuốn Nhớ mãi lời Bác, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1987).

5. Sức cảm hóa kỳ diệu

Cuối tháng 02-1946 cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội. Cốt để biết nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mà cụ đã nghe tiếng từ lâu là người như thế nào, chứ cụ nhất định không nhận chức vụ chi cả trong Chính phủ. Đặc biệt cụ lo lắng về cái mà cụ gọi là tình hình "đảng tranh".

Theo ý cụ thì Việt Minh, Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh đều tranh đấu cho dân, cho nước, các vị cầm đầu đều là người yêu nước, từng bôn ba hải ngoại, nay cần đặt quyền lợi quốc gia lên trên, chứ không nên vì chuyện đảng phái mà đả kích nhau mãi.

"Chí thành năng động, tấm lòng thành của Cụ Hồ làm đá cũng phải chuyển, huống là tôi". Đó là câu nói chân thành xúc động của cụ Huỳnh khi gặp Bác. Cho nên ngày 02-3-1946, tại buổi họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ Huỳnh Thúc Kháng đứng cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Cụ Huỳnh đã đặt vào Chủ tịch Hồ Chí Minh một sự tin tưởng hoàn toàn. Bắt tay vào công việc thực tế và theo lối dư luận của đông đảo nhân dân, cụ Huỳnh ngày càng tin tưởng vào những người lãnh đạo mới và thấy rõ bộ mặt thật của bọn Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh... Nhất là sau khi công an ta phát giác ra được đầy đủ tang chứng âm mưu vụ đảo chính ở phố Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân) và vụ bắt cóc người ở phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều) tháng 7-1946.

Từ đó cho đến cuối tháng 11-1946, cụ Huỳnh lên đường đi kinh lý các tỉnh Trung Bộ, cụ vẫn thường gọi Bác là vị "Cha già của dân tộc".

(Theo Báo Hà Nội mới, ngày 11-5-1980).

6. Bác giao cho chú đi cứu đói

Chính quyền đã về tay cách mạng, về tay nhân dân. Trong những ngày trứng nước ấy có bao nhiêu khó khăn. Tôi tạm bỏ nghề thầy thuốc và được ra làm Chủ tịch khu phố Chợ Hôm.

Nước sông Hồng lên cao. Nạn đê vỡ đe dọa. Nạn đói hàng ngày cướp đi bao người dân vô tội. Chưa hết. Lại thêm dịch chấy rận do quân Tàu Tưởng mang sang ngày một lan rộng. Tôi tận mắt nhìn thấy nhiều người ngắc ngoải trên vỉa hè. Hàng ngày xe ôtô, xe bò đi nhặt xác chết mang ra nghĩa địa chôn. Giữa lúc đó, tôi được gọi lên gặp Bác. Vừa vào, tôi đã được Bác ân cần hỏi han ngay. Bác nhìn một lượt các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời có mặt lúc đó: Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Lê Văn Hiến, Cù Huy Cận... rồi giọng nghẹn ngào, xúc động, Bác nói:

- Hàng triệu người mình đã chết đói. Và còn hàng vạn người đang bị đói. Bác cho chú nhiệm vụ đi cứu đói. Chú về bắt tay vào việc ngay đi...

Bác còn dặn dò tôi tỉ mỉ cách thức làm việc như thế nào và hỏi tôi còn có những khó khăn, vướng mắc gì nữa. Bác lại chu đáo nhắc thêm:

- Công việc này quan trọng lắm đây. Có khó khăn gì chú Hợp lên gặp Bác. Lên lúc nào cũng được, chú rõ chưa! Tôi không thể tưởng tượng ra phút hạnh phúc của đời tôi như thế này. Những người trí thức cũ như chúng tôi cũng được Bác yêu thương, tin cậy như vậy sao?

Thế là chỉ trong vòng mấy tháng sau ngày Tổng khởi nghĩa, những người thân trong gia đình tôi lần lượt được Bác giao công tác. Anh ruột tôi, kỹ sư Đỗ Xuân Dung được Bác giao trông nom đê điều, chống lũ lụt. Vợ tôi được giao việc cứu thương, cứu nạn, lập Hội Hồng thập tự. Và tôi được Bác trực tiếp gọi lên giao cho nhiệm vụ cứu đói. Chúng tôi sung sướng bảo nhau phải một lòng, một dạ theo cách mạng, xứng đáng với sự tin yêu của Bác Hồ.

(Theo Giáo sư Đỗ Xuân Hợp, trích trong cuốn Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân, Nxb. Quân đội nhân dân, 1984).

7. Đại đoàn kết, làm sao có lợi cho sự nghiệp chung

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thành công, chính quyền nhân dân chưa vững chắc và còn gặp nhiều khó khăn. Sau ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập và ra mắt Chính phủ lâm thời ít lâu, một lần Bác gọi tôi và hỏi:

- Chú có quen cụ Trần Trọng Kim và biết cụ ở đâu không?

Ai cũng biết Trần Trọng Kim là nhà học giả đứng đầu chính phủ do Nhật dựng nên sau cuộc đảo chính Pháp ở Đông Dương ngày 09-3-1945, tôi ít gặp nhưng có quen, vì trước cùng là nhà giáo, mặc dù ông ta nhiều tuổi hơn tôi. Bác hỏi tiếp:

- Nhà cụ ấy có ngõ để xe ôtô vào không?

Tôi xin Bác để tôi trực tiếp đi xem xét lại, chưa thể trả lời chính xác chi tiết này. Tôi hiểu Bác muốn có một cuộc gặp khá kín đáo để tránh mọi sự hiểu lầm hoặc bọn phản động phá rối về sau.   

Tôi đến phố Nhà rượu quan sát, về báo cáo Bác: Không có cổng cho xe vào! Tôi không chắc Bác Hồ có dịp gặp Trần Trọng Kim lần nào không, vì ít lâu sau có tin cụ biến mất khỏi Hà Nội không để lại dấu vết gì. Và rồi cụ mất âm thầm nơi xứ lạ quê người.

Cùng thời gian đó, Bác Hồ đã chủ động gặp cả Ngô Đình Diệm ra ẩn náu ở Hà Nội, bàn chuyện hợp tác giành độc lập cho nước nhà. Nhưng họ Ngô vốn nuôi đầu óc chống cộng kịch liệt, đã từ chối.

Hoặc lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa bùng nổ, Bác không quên cử đồng chí Phan Mỹ phụ trách Văn phòng Phủ Chủ tịch về tận quê đón cụ Phan Kế Toại, khâm sai đại thần cũ, mời ra làm việc. Cụ Phan mừng lắm, đã đi theo kháng chiến.

Tôi cũng còn nhớ buổi tiễn Bác từ Pari đi Toulon để đáp tàu biển về nước sau khi ký Tạm ước ngày 14-9-1946, khi xe lửa chuyển bánh, Bác Hồ nhắc tôi lần cuối:

- Chú nhớ tìm gặp các bạn quen, giữ quan hệ tốt với họ.

Tôi hiểu lời nhắc của Bác, vì trước đó Bác đã dặn dò kỹ. Chính quyền Pháp bây giờ thuộc về những người xã hội như Léon Blum, Moutet, thế lực không mạnh và còn do dự không muốn tiến hành chiến tranh ở Đông Dương, phải tìm cách tranh thủ.

Có thể nói Bác Hồ là một con người có lòng vì nước vì dân, mạnh dạn khai thác những khả năng nhỏ nhất để tháo gỡ tình hình phức tạp, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Bác khoan dung không hề định kiến quá khứ, tìm đến từng con người cụ thể, với ai cũng thử thuyết phục và dám dùng, kể cả lớp quan lại cũ, tất cả nhằm đạt mục đích cuối cùng là làm sao có lợi cho sự nghiệp chung.

(Giáo sư Hoàng Minh Giám kể, đăng trên báo Đại đoàn kết, ngày 22-01-1990).

Thanh Huyền (tổng hợp)
Còn nữa


8. Chỉ có hạng nhì thôi!...

Năm 1958, Hà Nội thanh toán xong nạn mù chữ, được Bác thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì. Chủ tịch Trần Duy Hưng và tôi lên xin gặp Bác. Tôi cứ nằn nì xin Bác cho Hà Nội Huân chương Lao động hạng Nhất. Bác nghĩ một chút rồi gọi chúng tôi lại bên bức tường. Bác vạch một giới hạn rồi bảo: "Nam Định được thế này, thì tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. Hà Nội cũng được thế này, nhưng chỉ cho hạng Nhì thôi - Thủ đô thì phải cao hơn mới được hạng Nhất!".

Rồi Bác nheo mắt nhìn tôi "Hà Nội có ông Điềm mà không làm được à?" (Chả là lúc bấy giờ, tôi ở trong Ban lãnh đạo Sở Vận động bổ túc văn hóa của Hà Nội).

Chúng tôi không dám nằn nì nữa, nhưng lại thấy tự hào, phấn khởi. Ấy vậy! Bác có cách nói hay như vậy - Vừa là răn vừa là khen, vừa là khích lệ, vừa giản dị, vừa thích hợp với từng cán bộ.

Từ đó, tôi tâm niệm: Quan tâm làm công tác bổ túc văn hóa, làm cho đến khi nào sức khỏe không cho làm nữa thì thôi, để góp phần đưa phong trào bổ túc văn hóa ở Thủ đô đạt kết quả thật tốt, cao hơn các địa phương xứng đáng với lòng mong mỏi của Bác.

(Theo Hồ Đắc Điềm, báo Hà Nội mới, 1980).

9. Mễ Trì ngày ấy

Vụ chiêm Xuân năm ấy (1958), trời nắng hạn kéo dài, ruộng đồng Mễ Trì nứt nẻ chân chim, công việc sản xuất nông nghiệp khó khăn. Chi bộ đảng Mễ Trì đã động viên lực lượng thanh niên và tổ chức nông dân đi đầu trong công tác chống hạn.

Sau hàng tháng trời vất vả, hàng chục giếng đất, hố đấu, ao chuôm mương máng được đào và nạo vét trên khắp cánh đồng thôn Thượng, thôn Hạ và Phú Đô. Dòng nước mát, từ đó chảy theo những con mương nhỏ tưới xanh trở lại 40 mẫu mạ xứ đồng Sung vàng héo hôm nào. Trên đồng ruộng Mễ Trì, từ ruộng thấp đến ruộng cao đã nhộn nhịp tiếng cười của người cày, người cấy.

Mễ Trì trở thành nổi tiếng về chống hạn không những ở Thủ đô mà còn là một trong những điển hình của toàn miền Bắc. Dù bận trăm công nghìn việc, Bác vẫn theo dõi tình hình chống hạn và quyết định về thăm Mễ Trì.

Hôm ấy, tại đình làng Hạ, trên hai trăm đại biểu đang họp nghe báo cáo thành tích chống hạn thì được tin Bác về thăm.

Từ trên xe ôtô bước xuống, Bác Hồ vào thẳng đình, Bác mặc bộ quần áo kaki xanh bạc màu, đội mũ cát vành to, chân đi đôi dép cao su đã cũ.

Mọi người đứng lên chào Bác, ai cũng muốn đứng gần Bác. Hiểu tâm trạng của mọi người, Bác vẫy tay thân mật ra hiệu cho các đại biểu ngồi xuống trật tự. Bằng giọng nói ấm áp Bác hỏi:

- Chú nào đại diện cho xã đây?

Khi ấy, đồng chí Nguyễn Thanh Lương đang đứng gần Bác, xúc động quá khẽ nói:         

- Dạ thưa Bác, cháu ạ.    

Bác lại hỏi:

- Chú làm gì?

- Thưa Bác, cháu làm Phó Bí thư Chi bộ kiêm Bí thư Nông hội xã ạ.

Bác âu yếm nhìn đồng chí Lương rồi hỏi tiếp:

- Chú bao nhiêu tuổi rồi?

- Thưa Bác cháu 19 tuổi ạ.

Bác cười nắm chặt tay đồng chí Lương:

- 19 tuổi, trẻ quá!

Bác quay sang các đại biểu:

- Nhân dân xã Mễ Trì làm tốt công tác thủy lợi phải không?

Không ai bảo ai, cả hội trường sung sướng đồng thanh nói:

- Thưa Bác, vâng ạ!

Bác nói tiếp:

- Được tin Mễ Trì làm tốt công tác chống hạn, hôm nay Bác về thăm...

Bác khen thành tích chống hạn của cán bộ và nhân dân trong xã, Bác động viên bà con hãy cố gắng chống hạn tốt hơn nữa để làm vụ đông xuân hết diện tích. Bác bảo:

- Đồng bào Mễ Trì phải "vắt đất ra nước thay trời làm mưa" đừng tin vào cầu đảo lễ bái. Hôm nay Bác xuống thăm và có phần thưởng cho Mễ Trì. Bác trao ba huy hiệu này cho xã, ai có thành tích xuất sắc trong công tác chống hạn thì tặng.

Và ba chiếc huy hiệu đó được tặng cho các ông: Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Văn Tú, và bà Lê Thị Tương là những nông dân có thành tích chống hạn xuất sắc nhất.

Sau đó Bác đi thăm đồng, Bác đi thăm giếng nước chống hạn ở cánh đồng Xứ cửa Miếu. Đường bờ ruộng chật hẹp, các em thiếu nhi dẫm lên các trà mạ cạnh đường, thấy thế Bác Hồ liền nhắc:

Các cháu đừng đi xuống đó, dẫm chết hết mạ rồi.

Đến giếng đồng Xứ cửa Miếu, Bác hỏi đồng chí Lương đi bên cạnh:

Giếng này các chú đào bao lâu?

Thưa Bác, chúng cháu đào một tuần ạ.

Lực lượng nào đào?

Thưa Bác, chủ yếu là thanh niên và trung niên ạ.

Các chú đào được bao nhiêu giếng to như thế này rồi?

Thưa Bác, mới 9 chiếc ạ.

Trước khi ra về Bác còn căn dặn mãi chúng tôi cần tiếp tục làm tốt việc chống hạn để lúa đạt năng suất cao cho nhân dân được cơm no, áo ấm và nếu làm tốt Bác sẽ có phần thưởng.

(Theo Nghiêm Thị Hằng: Những lần đón Bác, Nxb. Hà Nội, 1984).

10. Nặn tượng Bác

Tôi quên sao được buổi sáng tháng Năm năm 1946 ấy, một buổi sáng mùa hè rực rỡ, Hà Nội chói lọi màu nắng, màu hoa phượng đỏ. Anh Nguyễn Đình Thi mang tới cho tôi một tin vui bất ngờ: Hội Văn hóa cứu quốc cử tôi cùng hai anh Tô Ngọc Vân và Nguyễn Đỗ Cung vào nặn tượng và vẽ chân dung Bác tại Bắc Bộ phủ. Niềm vui lớn khiến tôi lặng đi một phút.

Trong lúc này, Bác Hồ - người thuyền trưởng thiên tài đang chèo lái con thuyền đất nước qua cơn bão tố hằng ngày phải giải quyết bao công việc phức tạp, vẫn vui lòng dành cho chúng tôi một đặc ấn lớn.

Chúng tôi được phép ghi chép ký họa từ sáu đến tám giờ. Cứ đúng tám giờ là các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam lại tới báo cáo, trao đổi công tác với Bác. Phòng làm việc của Bác thoáng đãng, sàn gỗ đánh xi bóng lộn. Tôi xin mang theo một cái giá khá nặng và một hòm gỗ đựng đất sét. Thấy căn phòng quá sạch sẽ, tôi lúng túng không dám bước vào.

Bác biết ý, cho người kiếm một chiếc chiếu "để cô Kim để giá và hòm đất".

Bác ung dung ngồi đọc báo. Trên chiếc bàn rộng của Bác đặt hàng chồng báo các loại, trong nước, ngoài nước.

Đứng trước Bác, tôi cảm thấy tài năng nghệ thuật của mình nhỏ bé quá. Liệu mình có đủ sức miêu tả một phần nào cái vĩ đại của Bác qua bức tượng bán thân mà mình sắp sửa làm bằng cả tâm huyết và lòng kính yêu lãnh tụ không? Tôi vừa mừng, vừa lo, cứ loay hoay đứng từ xa, đo miệng Bác, tai Bác, râu Bác. Bác rất tinh tế và tế nhị khoát tay cho phép tôi cứ tự nhiên đừng quá dè dặt.

Mỗi ngày hai tiếng, được làm việc cạnh Bác, tôi thấy thì giờ trôi qua rất nhanh.

Thời gian lại rất gấp. Bác sắp lên đường sang Pháp dự Hội nghị Phôngtennơblô, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp.

Buổi đầu tiên, Bác mời thuốc lá thơm các anh Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung. Bác cười bảo tôi: "Ngày mai, sẽ mời cô ăn kẹo".                                                                                         

Vào ngày thứ mười, trái với thường lệ, ba nghệ sĩ chúng tôi được vượt quy định khoảng 20 phút. Bác cười vui bảo:

- Hôm nay tôi làm thêm giờ, phải có bồi dưỡng đấy nhé!

Sau hơn hai mươi ngày miệt mài lao động, tôi hoàn thành tượng Bác, tác phẩm quan trọng cuộc đời nghệ thuật của tôi.

(Theo nghệ sĩ điêu khắc Nguyễn Thị Kim, Lê Hoàng ghi: Bông hồng của Bác, Nxb. Phụ nữ, 1985).

11. Bác làm văn nghệ

Cuối năm 1962, tôi được đi dự Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba. Ngày 01 tháng 12, ngày cuối cùng của Đại hội, thì có tin Bác đến. Cả hội trường ào lên như sóng. Tiếng hoan hô "Bác Hồ muôn năm" vang lên cho đến lúc Bác giơ tay ra hiệu mới lắng đi. Nhìn chúng tôi lúng túng với những bó hoa trong tay. Bác bảo:

- Tặng hoa à? Tặng hoa thì phải đi nhanh lên chứ!

Không khí Đại hội lại ồn ào, vui vẻ, đầm ấm hẳn lên. Bác nói tiếp:

- Không mấy khi được gặp đông đủ thế này, Bác muốn bắt tay tất cả nhưng không đủ thì giờ. Vậy Bác bắt tay đại biểu thôi. Đại biểu nào cao tuổi nhất nào? - Bác cười: - Cao tuổi nhất, chứ không nói già đâu nhé.

Tiếng cười reo lại vang lên. Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh chạy lên. Bác lại hỏi:

- Đại biểu nào ít tuổi nhất?

- Tôi giật thót mình, vì trong Đại hội tôi được coi là người trẻ nhất. Nhà văn Bảo Định Giang dẫn tôi về phía Bác:

- Thưa Bác, cháu Trà Giang, người miền Nam, ít tuổi nhất Đại hội đấy ạ!

Tôi dâng hoa lên Bác mà chân cứ run run. Bác hôn lên trán tôi và bảo:

- Trẻ mà có thành tích thì cháu càng phải chăm học nhất là phải hết sức khiêm tốn.

- Dạ! Tôi đáp lí nhí, nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.

Sau đó Bác nói chuyện với Đại hội. Bác hỏi:

- Có bao nhiêu bản tham luận tất cả?

- Thưa Bác, chín mươi chín ạ!

Bác cười:                                                                                                                             

- Thế này là vừa đúng một trăm. Nhưng các cô, các chú đừng sợ, có ba trang thôi! Bác cầm tờ giấy giơ lên, cả hội trường lại cười reo vui vẻ.

Bác nói:

Bác nêu một kinh nghiệm cũ. Thời thanh niên - Bác hạ giọng thêm: - Giờ Bác vẫn còn là thanh niên - Bác hoạt động cho Đảng, Bác phải làm nhiều nghề. Làm ảnh, làm bếp. Đây có ai làm bếp không? Cũng có khi Bác làm văn nghệ. Bác có viết một cuốn tiểu thuyết1 về Cách mạng Tháng Mười Nga. Bác viết, đồng chí Hồ Tùng Mậu in. In bằng đất. Rồi phát hành bao nhiêu? Một quyển. Mấy quyển nữa thì cảnh sát Anh tịch thu hết. May mà nó tịch thu tiểu thuyết mà không tịch thu được người viết vì hai anh em đi vắng. Vậy mà một quyển tiểu thuyết phát hành được một quyển, được một người xem. Đó là "thành công" về tiểu thuyết của Bác! Bác lại viết một vở kịch2 đả kích Khải Định, viết bằng chữ Pháp. Thế mới gan chứ! Điếc không sợ súng mà! Viết xong, Bác phải đi. Sau này, "câu lạc bộ ngoại ô" có đem diễn. Thành công, thất bại thế nào. Bác cũng không biết. Đó là "thành tích" Bác viết kịch. Rồi Bác còn diễn kịch nữa đấy! Ở Pháp có nhóm văn nghệ sĩ tiến bộ. Họ viết một vở kịch đả kích thực dân. Bác sắm một vai, ra sân khấu không đầy một phút. Diễn xong anh em bắt tay khen diễn khá. Và thù lao cho một cốc cà phê.

Cả hội trường lại rộ lên tiếng vỗ tay, tiếng cười. Bác nói tiếp:

Kinh nghiệm thế nào? Trước cách mạng, muốn sống phải lao động chân tay, chứ làm văn nghệ thì ba lần làm văn nghệ Bác chỉ được uống một cốc cà phê thôi!

Bác nói chuyện thật giản dị mà rất dễ nhớ. Bác còn nói về sân khấu và điện ảnh dưới thời đất nước bị nô lệ. Bác kết luận:

Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải làm cách mạng. Bác động viên, khuyên nhủ anh chị em làm công tác văn nghệ cố gắng sáng tạo nghệ thuật để có những tác phẩm xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta, có tác dụng với chúng ta ngày nay và để giáo dục cho con cháu ta đời sau.

Những lời Bác dạy là bài học rất lớn đối với tôi và với toàn thể giới văn nghệ nước ta.

(Theo nghệ sĩ điện ảnh Trà Giang: Bông hồng của Bác, Nxb. Phụ nữ, 1985).

Thanh Huyền (tổng hợp)

Chú thích:

1. Nhật ký chìm tàu.
2. Con rồng tre.


 12. Tượng đồng bia đá cũng không bằng

 Bác hết sức chăm lo đến việc chống giặc dốt. Nạn mù chữ còn là một di sản nặng nề do chế độ thực dân để lại. Theo lời kêu gọi của Bác, gần chục vạn giáo viên bình dân học vụ và hàng triệu đồng bào đang lao vào trận đánh để đẩy lùi giặc dốt.

Bác không những quan tâm một cách đặc biệt đến việc mở mang hiểu biết cho người dân một nước độc lập mà còn đặt vào đó những tình cảm thiết tha. Nha bình dân học vụ gửi tới Bác cuốn "Phương pháp và cách thức dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ". Bác xem rồi tự viết vào đầu cuốn sách: "Anh chị em giáo viên bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết. Thế là làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc".

Trong thư gửi giáo viên bình dân học vụ, Người viết: "Tôi mong rằng trong một thời gian rất ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả vẻ vang: Đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng bia đá cũng khồng bằng".

 (Trích từ: Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn hóa, 1997)

13. Ngày ấy Bác về

Mùa Thu năm 1964, nước sông Hồng lên to, đê quai Khuyên Lương có nguy cơ sắp vỡ. Lực lượng chúng tôi thức suốt ba, bốn đêm liền coi bờ, đắp thêm con chạch, quyết giữ không cho nước tràn vào.

Buổi sáng hôm ấy, đang mơ mơ tỉnh tỉnh ở quán canh ven đê, tôi giật mình tỉnh dậy thì Bác đã đến. Chủ tịch Trần Duy Hưng giới thiệu với Bác:

- Thưa Bác, đây là đồng chí Lương Văn Nghĩa, Chủ nhiệm Hợp tác xã.

Người tôi lúc ấy cứ nóng ran lên. Được gặp Bác ngay trong lúc gay go này thật sung sướng và bất ngờ quá.

Bác vỗ vai tôi và hỏi:

- Các chú có mệt không?

- Thưa Bác, không mệt lắm đâu ạ!

Bác liền hỏi gặng:

- Có thật không, làm suốt đêm mà không mệt thì giỏi thật!

Rồi Bác bảo tôi:

- Các chú dẫn Bác ra ngoài đê!

Bác hăng hái xắn quần đi cùng với chúng tôi. Hôm đó trời oi bức nên Bác cũng mệt. Đi đến cái lều ở gốc cây gạo, Bác định vào nghỉ. Lúc ấy, mấy công nhân phụ trách máy phát điện đang ngủ, chúng tôi định gọi anh em dậy, Bác liền xua tay:

- Làm việc cả đêm mệt, để các chú ấy ngủ!

Nói rồi, Bác xắn quần đi trước rất nhanh. Anh em bảo vệ thấy nóng, quạt cho Bác, Bác liền cầm quạt tự quạt lấy. Mặt trời đã lên cao, nắng bắt đầu gay gắt hơn. Bác hỏi chúng tôi:

- Các chú có quyết tâm bảo vệ không?

- Thưa Bác quyết tâm ạ!

Bác vui vẻ hỏi:

- Các chú quyết tâm bảo vệ là rất tốt, nhưng có khi phải hy sinh cái nhỏ để bảo vệ cái lớn!

Bác còn động viên nhân dân đang thường trực chống lụt hồi lâu rồi mới quay về.

Đến gốc gạo, Bác dừng chân vào lều nghỉ. Lúc này công nhân đã thức dậy. Vừa quạt, Bác vừa hỏi anh em:

- Các chú ngủ có ngon không?

- Thưa Bác ngủ ngon ạ!

- Các chú trực đến mấy giờ?

- Thưa Bác đến gần sáng để giải quyết điện cho bà con ạ!

Bác cười hiền từ:

- Các chú tận tình giúp nông dân thế là tốt. Công nông phải đoàn kết để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các đồng chí ở hợp tác xã đã bồi dưỡng gì các chú chưa?

- Thưa Bác, các đồng chí ấy bận chưa kịp bồi dưỡng và đấy cũng là nhiệm vụ của chúng cháu ạ!

Bác quay lại hỏi chúng tôi:

- Sao các chú không bồi dưỡng cho công nhân? '

- Thưa Bác, có ạ!

- Ừ, thế chứ, phải đoàn kết, xây dựng quan hệ công nông cho tốt!

Nói chuyện với anh em công nhân xong, Bác cùng đồng chí Trần Duy Hưng đi bộ ra xe. Chúng tôi trìu mến nhìn theo mãi bóng hình thân thương của Bác.

Và xúc động biết bao sau đó hai tháng, Bác có viết thư cho Thành ủy và hỏi thăm các đồng chí công nhân đã được hợp tác xã chúng tôi bồi dưỡng chưa?

(Theo Anh hùng Lao động Lương Văn Nghĩa: Muôn vàn tình thân yêu, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1969).

14. Bác Hồ nói về làng mỹ nghệ

Tháng 02 năm 1964, nhân dịp Hội nghị Trung ương lần thứ 10, tôi được gọi lên tổ chức trưng bày những mặt hàng do Trường Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp làm ra. Triển lãm trưng bày tương đối đầy đủ các mặt hàng, sản phẩm của học sinh và cán bộ, nghệ nhân trong trường.

Bác xem hàng đồ gốm và khen:

- Nên phát triển cái này, các cụ ta trước đây làm nhiều cái này. Đồ sành, đồ gốm nó chắc bền, nó đẹp và thật quý, chứ ta ít làm đồ sứ quá. Nhưng dù thế nào cũng phải đảm bảo tính dân tộc. Bác nghĩ một chút rồi lại nói tiếp:

- À tính dân tộc. Bác chỉ vào cái chén và bảo:

- Đây này, ta chỉ có cái chén mà không có cái tách, cái tách là ngoại lai, cái tách là LA TASSE, cái chén không có cái tai. Các cụ uống trà, mời nhau thì bưng cái chén bằng hai tay, chứ không xách cái tai tách mà giơ ra mời (Bác vừa cười vừa làm hiệu), có uống cũng nâng chén lên, hai tay xoa xoa rồi mới uống, mà uống rất nóng. Đấy là dân tộc đấy.

Rồi Bác lại nói tiếp:

- Không những thế, nó còn tiện lợi. Chén không có tai, khi xếp chồng lại rất gọn vì không có tai, lại dễ rửa sạch vì cái bẩn thường cáu lại ở góc tai.

Bác lại chỉ vào cái ấm có quai bằng mây mà nói:

- Đây này, nên phát triển cái này mà không nên phát triển cái này (Bác chỉ vào cái ấm có tai). Cái này nó ở cái ấm tích và cái ấm đất của nông dân, cái này là của ta. Phải tìm hiểu phong tục tập quán, cách dùng của ta mà ra kiểu. Đấy là dân tộc ấy.

Sau đó Bác hỏi có phải nhập nguyên liệu của nước ngoài không? Tôi thưa:

- Thưa Bác, đại bộ phận là ở trong nước ạ! 

Bác bảo:

- Tốt, còn lại tí ti bộ phận kia cũng cố gắng giải quyết nốt đi thì tốt hơn. Ta có dùng được tất cả là của ta thì mới rẻ.

Nghĩ một lát, Bác cười bảo:

- Sao chú không nói phần lớn nguyên liệu mà lại là đại bộ phận?

Bác như người cha hiền từ chú ý bảo ban con cái. Bác rất vui và nhắc chúng tôi phải làm thật tốt, nhanh, rẻ, để phục vụ nhân dân.

Đến trước mấy bộ bàn ghế bằng tre, trúc, Bác bảo:

- Thế này tốt, xứ ta là xứ nóng, không nên làm mãi các loại ghế to có đệm, vừa nặng, vừa đắt tiền mà nóng quá không ai muốn ngồi. Nên làm nhiều loại bằng trúc này vì ở nước ta tre trúc rất nhiều, dễ làm, ta khéo tay, có kiểu là có thể tự làm lấy được. Ghế làm bằng tre trúc vừa nhẹ nhàng, rẻ tiền, lại vừa sạch.

Đến trước một số hàng dệt, chủ yếu là hàng thổ cẩm Bác bảo:

- Dân ta chưa mua được những thứ này đâu, nhưng nếu bán ra ngoài được nhiều thì nên bán, tốt hơn là bán tơ cuộn, nhưng cũng phải làm thế nào cho nhanh, cho nhiều vì ta còn cần nhiều máy móc.

Bác luôn tươi cười và đi xem rất tỉ mỉ, chỉ có mấy hôm mà Bác vào phòng trưng bày đến bảy lần.

Có một buổi trưa, tôi đến sớm để dọn dẹp, đã thấy Bác đang xem xét. Bác thân mật hỏi chuyện tôi và bảo:

- Chú đợi đây, Bác về lấy cho xem mấy thứ đồ của bạn tặng Bác.

Một chốc, Bác trở lại với một biển chạm gỗ, một biển chạm nổi bằng ngà voi, một chén sứ đưa cho tôi xem, bảo tôi nhận xét rồi nói:

- Đúng là khéo, thật khéo nhưng không đẹp! Bởi vì tham quá, rườm rà quá. Ta phải thấy cho đúng cái khéo của người ta mà học tập, những cái gì chưa tốt phải nhận ra, đừng có tự ti. Phải thấy rõ cái giỏi, cái quý của mình mà giữ lấy. Đây, cho chú mượn một tuần xem cho kỹ.

Người còn dạy bảo:

- Ta có nhiều nghề quý như khảm trai ốc, chạm gỗ, thêu... Rất nhiều cái quý mà thợ giỏi cũng nhiều, nhưng bây giờ đều già cả rồi, các chú phải tìm lại, tìm những cụ già mà học, làm tốt lên, đừng có để mất đi.

(Theo Nguyễn Khang: Tập sáng tác Hội văn nghệ Hà Nội, tháng 5-1970).

15. "Ai yêu Bác Hồ Chí Minh"

"Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng. Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt Nam...". Đó là bài đồng ca ở đầu buổi biểu diễn báo cáo thành tích học tập với Bác kính yêu, nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi của học sinh Trường Âm nhạc Việt Nam tại Phủ Chủ tịch, tối ngày 31-5-1969.

Hôm ấy, chúng tôi đưa các em đến Phủ Chủ tịch khá sớm để chuẩn bị. Tất cả đều hồi hộp chờ Bác đến. Im lặng và ánh nhìn hướng về phía cửa. Bỗng cả hội trường bừng lên náo nhiệt: - Bác đến rồi! Nhìn Bác đi thong thả, chậm rãi, linh cảm lo âu bỗng trào lên: Bác yếu mệt rồi ư? Nhưng rồi điều lo lắng ấy của mọi trái tim tan đi nhanh chóng khi bắt gặp nụ cười ấm áp của Bác và khi Người đưa tay vẫy gọi các cháu. Như đàn chim non, bầy trẻ ào đến quây quần quanh Bác. Bác dẫn các cháu đến chỗ Bác ngồi và bế hai cháu nhỏ nhất vào lòng, kéo các cháu khác đứng bên cạnh. Bác hỏi các cháu chuyện học hành, vui chơi... các cháu tranh đáp lời Bác. Cháu nào cũng muốn kể với Bác thật nhiều. Bác tươi cười chăm chú nghe các cháu kể chuyện như người ông đi xa mới về nghe đàn cháu ríu rít khoe chuyện ở nhà. Trong không khí đầm ấm ấy, các cháu trong hội đồng ca mở đầu buổi diễn. Bác Hồ vỗ tay hòa theo nhịp hát của các cháu. Cả hội trường hưởng ứng. Bài đồng ca biến thành bài hát tập thể sôi nổi, dạt dào... "Bác chúng em dáng cao cao, người thanh thanh, Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài. Bác chúng em nước da nâu vì sương gió..." và đến lúc lời ca cuối bài ngân lên "Chúng cháu ước mong Bác Hồ Chí Minh sống... muôn... năm". Cả hội trường trào lên trong tiếng vỗ tay kéo dài.

Sau mỗi tiết mục, Bác lại thưởng các cháu kẹo và ân cần động viên, nhận xét bài các cháu biểu diễn. Đặc biệt, sau khi em Nguyễn Thu Hải độc tấu đàn 36 dây, Bác ôm hôn và đưa em hai cái kẹo. Hải lưỡng lự băn khoăn không biết nên nhận một hay cả hai chiếc, vì em thấy các bạn ai cũng chỉ nhận một chiếc. Thấy vẻ lưỡng lự ấy, Bác hỏi ngay?

- Cháu muốn lấy một hay hai cái kẹo?

- Thưa Bác! Cháu muốn lấy một cái ạ.

Bác Hồ vui vẻ:

- Ừ phải, cháu ăn một cái, còn một cái để phần các bạn Tây Nguyên.

Chả là Hải biểu diễn khá đạt bài "Em nhớ Tây Nguyên". Chi tiết nhỏ bé ấy khiến chúng tôi thấu hiểu lòng Bác chẳng lúc nào nguôi nhớ miền Nam.

Ngay lúc như có điều gì suy nghĩ, Bác gọi em Hải:

- Cháu vừa biểu diễn bằng cây đàn gì vậy?

- Thưa Bác, đấy là cây đàn tam thập lục ạ!

Bác liền bảo:

- Sao cháu không gọi là đàn 36 dây theo tiếng của chúng ta?

Hải lúng túng:

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chúng tôi và các em đâu ngờ đó là buổi biểu diễn cuối cùng để Bác xem trước lúc Người đi xa mãi mãi.

(Trích trong cuốn Bác Hồ với Thủ đô Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005).

Thanh Huyền (tổng hợp)


 16. Các cô chú có đồng ý thế không?

Trong những năm 1955 - 1956, phong trào xóa nạn mù chữ phát triển rầm rộ. Đặc biệt khu Lương Yên là khu lao động có rất nhiều người từ 16 tuổi trở lên chưa biết chữ. Cuối tháng 02 năm 1956, khu phố tôi đã mở 75 lớp cho gần một ngàn đồng bào lao động học. Từ các cụ già đến các chị con mọn cũng tham gia học lớp bình dân học vụ vào buổi tối.

Hôm nay, buổi tối một ngày cuối tháng 3 năm 1956, tôi đến lớp học như thường lệ. Đang chăm chú viết, tôi bỗng nghe có tiếng lao xao. Tôi đoán chắc lại có phái đoàn đến thăm và động viên như nhiều lần trước nên vẫn mải mê nắn nót chép chính tả. Thoáng thấy có tia sáng vụt lóe chớp tôi thầm nghĩ: Quái, ai hút thuốc lào mà bật lửa liên tục thế nhỉ? (Sau mới biết là các phóng viên chụp ảnh). Lúc ngẩng lên thì đã thấy Bác đang đứng trước mặt, tôi. Tôi chưa kịp nói gì, Bác đã bảo: "Cô viết nữa đi, cô viết đẹp rồi đây!".

Tôi cảm động quá, chẳng biết nói gì, lúng túng đứng dậy và định vỗ tay chào mừng Bác. Nhưng Bác xua tay bảo: "Thôi thôi! Cô cứ ngồi xuống viết đi. Cô viết khá lắm".

Rồi Bác hỏi tiếp:

- Cô được mấy cháu rồi?

Được Bác hỏi chuyện, tôi sung sướng thưa:

- Thưa Bác, cháu được hai cháu ạ, một trai một gái.

- Cô sắp có cháu thứ ba phải không?

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chú ấy làm gì?

- Dạ thưa Bác, nhà cháu là thợ sửa chữa ô tô ạ.

- Cô cố mà học cho giỏi, đến 19 tháng 5 này viết thư cho Bác nhé.

- Dạ vâng ạ.

Nguồn hạnh phúc bất ngờ khiến tôi bàng hoàng, lưỡi cứng lại, người đờ ra. Đến khi Bác quay sang nói chuyện với mọi người, tôi vẫn ngỡ ngàng như không tin vào sự thật. Tôi như bừng tỉnh khi nghe giọng nói đầm ấm của Người cất lên:

- Thực dân Pháp đô hộ nước ta, các cụ, các cô, các chú không được đi học là thiệt thòi. Bây giờ có lớp bình dân học vụ, các cụ già còn đi học, vậy các cô, các chú phải cố gắng lên để theo các cụ. Các cô, các chú có đồng ý thế" không?

- Thưa Bác, đồng ý ạ!

Tôi nói thật to, hòa chung giọng với mọi người.

Quay sang giảng viên là cháu Hà, học lớp 5, mới độ 13-14 tuổi, Bác đặt tay lên vai cô "giảng viên tí hon” căn dặn:

- Cháu cố gắng chịu khó dạy các cô, các chú biết đọc, biết viết cho tốt nhé!

Cuối cùng Bác căn dặn, động viên mọi người học hành chóng tiến bộ. Rồi Bác ra về cũng đột ngột như lúc đến vậy. Chúng tôi xô cả ra cửa lớp, nhìn theo mãi dáng cao gầy, giản dị trong bộ quần áo kaki phai màu cho đến khi bóng Người khuất sau dãy nhà trước mặt.

(Theo bà Nguyễn Thị Tính, trích trong cuốn Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1980).

17. Một chuyến thăm, ba bài học

Sau hơn một tuần diễn ra trận chiến bảo vệ kho xăng Đức Giang, ngày 29-6-1966 Bác Hồ đến thăm một đại đội thuộc Đoàn thông tin Sông Điện, Bộ đội phòng không đóng ở chùa Trầm (Hoài Đức). Cuộc đi thăm không báo trước. Khi chiếc xe con dừng lại ở lưng chừng dốc, một chiến sỹ nhận ra Bác reo to lên. Bác giơ tay ra hiệu không được làm ồn ào rồi bảo chiến sỹ đó đưa Bác vào đơn vị.

Với đôi dép cao su giản dị Bác đi rất nhanh trên sườn đồi, bộ quần áo bà ba nâu bay trong gió. Sau khi dừng lại xem câu lạc bộ, Bác nhanh nhẹn đi xuống nhà bếp. Thấy đồng chí Hào Tổ trưởng anh nuôi đang bê một nồi cơm to từ trên bếp lò xuống. Bác vui vẻ hỏi:

- Mỗi bữa chú ăn được mấy bát?

- Thưa Bác, cháu ăn được ba bát ạ.

- Chú ăn được như vậy là tốt - Nói xong, Bác mở hộp thuốc lá lấy ra một điếu đưa cho Hào.

- Bác biếu chú, hút đi!

Rồi Bác lấy một điếu khác ra để hút. Thấy Bác có ý tìm đóm để châm lửa, Hào vội rút bao diêm trong túi ra định bật diêm cho Bác, Bác liền ngăn lại:

- Chú để dành diêm mà nhóm bếp. Cả bếp lò đang hồng thế kia tha hồ mà cho Bác cháu ta châm thuốc.

Chỉ một que diêm mà Bác đã cho chúng tôi bài học sâu sắc về tinh thần tiết kiệm.

Ở bếp bước ra, Bác hỏi cán bộ đại đội:

- Các chú có trồng rau không?

- Thưa Bác, chúng cháu chỉ trồng được rau muống dưới chân núi thôi ạ. Còn trên sườn đồi này nhiều sỏi, trồng không lên.         

Bác kể lại kinh nghiệm hồi ở chiến khu và bảo:

Các chú xúc hết đá đi, xới đất, xuống ao bốc bùn đổ lên, rau sẽ xanh tốt. Có trồng có ăn, đỡ phần cung cấp của nhân dân.

Từ đó, trên vách đá men theo con đường trong đơn vị các vườn rau đua nhau mọc lên xanh tốt. Đơn vị không chỉ tự túc rau ăn mà còn bán cho đơn vị bạn và nhân dân nữa.

Bài học thứ ba Bác dạy cho chúng tôi là con đường mòn và công tác dân vận. Khi đơn vị chưa đóng ở chùa Trầm, bà con trong vùng vẫn đi làm đồng theo con đường mòn qua núi. Từ ngày đơn vị đến, anh em đã tự động rào lại cấm người qua lại. Thăm qua mấy nơi, Bác bảo tập hợp bộ đội lại để Bác nói chuyện, Bác căn dặn:

- Muốn làm tốt nhiệm vụ, các chú phải đoàn kết nội bộ tốt, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân địa phương... chỉ có dựa vào nhân dân, đoàn kết với nhân dân mới bảo vệ được mình, che mắt địch và đánh thắng được chúng.

Chợt Bác chỉ tay ra phía đường cái và hỏi:

- Thế các chú cấm con đường này thì nhân dân đi lối nào?

- Thưa Bác, đi vòng theo các bờ ruộng ngoài kia ạ!

Bác nghiêm mặt:

- Như vậy là không được. Các chú cấm đường để bảo mật, phòng gian là đúng, nhưng phải đắp đường khác cho dân đi chứ. Có như vậy mới đúng là quân dân đoàn kết!

Bác dặn đơn vị phải làm ngay, đắp đường cho to, trồng cây hai bên và khi nào làm xong báo cáo cho Bác biết. Ngay hôm sau, đơn vị bắt tay vào làm đường, làm cả trưa hè nắng lửa, đốt đuốc làm cả đêm. Con đường hoàn thành trước hạn định. Các cụ trong làng đem cây ra trồng hai bên. Con đường quân dân đoàn kết ấy được đặt tên là "Đường Quyết Thắng" - Con đường mang ý Bác, lòng dân, con đường đi của chúng tôi: Vì nhân dân phục vụ.

(Theo Vũ Trọng Tâm, trích trong cuốn Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1984).

18. Nghệ sỹ phải là chiến sỹ

Vào một ngày cuối Thu năm 1959, tôi được báo vào Phủ Chủ tịch hát phục vụ Bác. Niềm vui quá lớn, quá bất ngờ khiến tôi hồi hộp, lo lắng, đứng ngồi không yên. Tôi lo trước Bác, mình sẽ lúng túng.

Vừa trông thấy tôi, Bác hỏi ngay:

- Hôm nay cô hát bài hát gì cho Bác nghe đây?

Tôi dè dặt thưa:

- Thưa Bác, cháu ngâm Kiều ạ.

Bác hỏi:

- Tại sao cô lại chọn ngâm Kiều?

Tôi luống cuống, ấp úng thưa:

- Thưa Bác, Kiều là tác phẩm của thiên tài Nguyễn Du. Cuộc đời Kiều ngày xưa trăm nghìn cay đắng, nhưng ngày nay nhờ có cách mạng, có Bác, xã hội Việt Nam không còn những nàng Kiều nữa ạ. Thấy tôi lúng túng, Bác liền thân mật bảo:

- Này nghệ sỹ phải là chiến sỹ. Đã là chiến sỹ phải dũng cảm.

Bất chợt Bác hỏi tôi:

- Cô vẫn hai cháu đấy chứ?

Tôi bàng hoàng cả người?

- Thưa Bác vâng ạ.

Thì ra hồi năm 1957, trong đoàn thanh niên Việt Nam đi dự phéttivan 6 ở Liên Xô, tôi đã được vinh dự gặp Bác tại Bắc Kinh. Lần đó Bác có hỏi chuyện gia đình tôi. Tôi đã thưa với Bác là có hai cháu trai. Bác bảo:

Muốn phục vụ tốt, đỡ vất vả, nghệ sỹ nên sinh đẻ ít thôi.

Đến nay đã hơn năm rồi. Bác phải lo trăm công nghìn việc của đất nước mà vẫn nhớ hoàn cảnh của tôi, khiến tôi xúc động nghẹn ngào, không nói nên lời.

Trong cuộc đời nghệ sỹ, tôi biểu diễn biết bao lần trước đông đảo người xem mà vẫn giữ phong thái tự nhiên. Vậy mà đứng trước Bác, một thính giả đặc biệt - tôi thật sự không bằng lòng với mình vì ngâm chưa đạt. Tôi thưa lại với Bác điều đó. Bác cười và nhắc lại:

- Nghệ sỹ phải là chiến sỹ. Chiến sỹ phải dũng cảm.

Từ một cô bé phải đi hát kiếm ăn từ 11 tuổi, trải qua bao cơ cực của đời hát thuê, tôi đâu dám mơ ước không chỉ được hát phục vụ mà còn được vị Chủ tịch nước ân cần hỏi han, dạy bảo như người cha đối với con.

Năm 1967, đoàn chúng tôi diễn màn đầu vở "Kiều Nguyệt Nga" để Bác được nghe nhiều làn điệu. Tôi đóng vai Lục Vân Tiên.

Biểu diễn xong Bác lên tặng hoa và bắt tay từng người. Với ai Bác cũng dừng lại nói vài câu. Lúc đến trước mặt tôi vẫn trong trang phục Lục Vân Tiên, Bác nói vui:

- Dại thế, lúc nãy Kiều Nguyệt Nga tặng trâm sao không lấy!

Tôi cũng cười mạnh dạn thưa:

Thưa Bác, vì Vân Tiên là một tráng sỹ gặp người bị nạn giữa đường cứu giúp, vì việc nghĩa chứ không phải vì bạc, vàng ạ!

Bác gật đầu cười. Tôi không ngờ đó là lần cuối cùng được biểu diễn phục vụ Bác.

Từ ngày Bác đi xa, tôi vẫn luôn nhớ câu nói của Bác. Tôi đã trải qua nhiều thử thách, đã trưởng thành và vẫn luôn nhắc nhở mình: "Nghệ sỹ phải là chiến sỹ".

(Nghệ sỹ ưu tú Lệ Thanh kể, trích trong cuốn Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1985).

19. Các chú ấy nói có đúng không?

Chủ nhật trước ngày 02-9-1958, khu nhà tập thể Thành hội phụ nữ đông vui hơn mọi ngày vì hôm ấy không chỉ có các ông chồng về chơi mà nhiều chị còn đón cả bố mẹ ở quê ra dự ngày hội lớn ở Thủ đô.

Khoảng ba giờ chiều, được các đồng chí lãnh đạo Thành ủy báo sẽ có khách quý tới thăm, chị Minh Quang - Phó Hội trưởng vội hội ý với chị Thúy Hạnh, nhắc nhở chị em đang ở nhà dọn dẹp sạch sẽ để đón khách.

Chưa kịp bắt tay vào việc chuẩn bị thì xe của Bác đã đến. Bác nhanh nhẹn bước xuống, các chị trong cơ quan mừng quá ùa ra đón Bác, mời Bác vào phòng khách. Nhưng Bác nói:

- Không, Bác chưa vào phòng khách. Các cô cứ để Bác đi xem các cô ăn ở thế nào đã.

Vừa nói, Bác vừa đi qua sân, qua dãy nhà tập thể rồi xuống thẳng bếp. Trước đó chị Thúy Hạnh đã chạy vội đi khép cửa mấy căn hộ nổi tiếng là luộm thuộm.

Các chị đang chuẩn bị bữa cơm chiều trong bếp thấy Bác thì vui sướng chạy ào ra, miệng reo như trẻ thơ:

- A! Bác đến, Bác đến!

Các đồng chí đi cùng với Bác khẽ nhắc:

- Các chị không nên reo to.

Bác hỏi chị em:

- Đây là nhà ăn à?

- Thưa Bác, vâng ạ!

Bác cười, hỏi mấy cô cấp dưỡng:

- Thế nào? Chiều nay các cô cho chị em ăn món gì?

Chị Nhàn thay mặt cả nhóm thưa:

- Thưa Bác, chiều nay chúng cháu có rau muống luộc, cà muối và đậu rán ạ!

Bác gật đầu vẻ hài lòng:

- Các cô giữ bếp núc sạch sẽ như thế này là tốt. Cố gắng thay đổi món ăn luôn cho chị em.

Cả mấy chị em đồng thanh đáp:

- Thưa Bác, vâng ạ!

Từ nhà bếp, Bác đi sang nhà trẻ. Bác hỏi:

- Sao không có các cháu?

- Thưa Bác, hôm nay là Chủ nhật các cháu ở nhà với bố mẹ các cháu ạ!

Bác nhìn qua cửa, thấy nhà trẻ sạch bóng, Bác gật đầu tỏ ý hài lòng.

Lúc ấy ngoài sân nhà tập thể, chồng của một số chị em đã tạm dừng công việc, phấn khởi ra đứng đón Bác, Bác cười hỏi anh em:

- Cơ quan phụ nữ sao lại có các chú ở đây?

- Thưa Bác, hôm nay Chủ nhật, chúng cháu về thăm gia đình ạ.

Bác hỏi lại:

- Các chú chỉ về thăm thôi à? Các chú phải về giúp các cô việc gì chứ?

- Thưa Bác, chúng cháu có giặt giũ, bế con, dọn dẹp nhà cửa đây ạ.

Bác quay ra hỏi chị em:

- Thế các chú ấy có nói đúng không?

- Thưa Bác đúng ạ.

Tất cả chúng tôi rộ lên sung sướng theo cái gật đầu bằng lòng của Bác.

(Theo lời kể của một chị công tác ở Thành hội, trích trong cuốn Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội, Nxb. Hà Nội,1985).

Thanh Huyền (tổng hợp)


20. Không thể ngược dòng

Cụ Hồ phải chèo lái con thuyền cách mạng trên một con sông đầy ghềnh thác hiểm nghèo, vừa mới vượt qua được một thác này, thì phía trước đã lại xuất hiện một ghềnh thác mới không kém phần nguy nan.

Hai mươi vạn quân Tưởng vậy mà vẫn không thể thay Chính phủ Hồ Chí Minh bằng bọn tay sai của chúng và đã phải nhục nhã rút khỏi Việt Nam. Nước cộng hòa non trẻ thoát khỏi một kẻ thù vô cùng nguy hiểm, độc ác và nhiều thủ lĩnh phản động, những tên này đã theo chân bọn Tưởng về nước, giờ đây lại cùng quan thầy tháo lui.

Quân Tưởng đi khỏi, một kẻ thù mới còn nguy hiểm hơn đã vội vã đến thay chúng. Ngay sau ngày ký Hiệp định sơ bộ, quân viễn chinh Pháp đã bắt đầu đổ bộ lên cảng Hải Phòng. Những bộ phận khác của chúng chiếm Đồng Đăng, một thị trấn ở biên giới Việt - Trung; chiếm vùng Tây Nguyên, lập nhà nước tự trị. Trong vùng tạm chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp xúc tiến việc thành lập "chính phủ bù nhìn". Và trên thực tế, Chính phủ ta đã nằm trong vòng vây của quân thù.

Muốn có hòa bình để xây dựng đất nước, Cụ Hồ chủ trương tạm thời hòa hoãn với Pháp, "hòa để tiến". Nhưng thực dân Pháp cố tình xâm chiếm Việt Nam lần nữa. Thấy ta nhân nhượng, chúng càng lấn tới, ra mặt khiêu khích ngay giữa Thủ đô Hà Nội.

Vòng hai cuộc đàm phán Pháp - Việt được tiến hành trên chiếc tàu tuần dương hạm của Pháp đang đậu tại Hạ Long. Ngày 24-3-1946, lúc 10 giờ sáng, chiếc thủy phi cơ Catalia đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh từ sân bay Gia Lâm đến, nhẹ nhàng hạ cánh xuống mặt vịnh phẳng lặng. Đô đốc Đácgiănglơ và Tướng Lơcléc đứng đón ở cầu thang tuần dương hạm. Những loại súng chào nổ vang. Cụ Hồ đội chiếc mũ nan rộng vành, tay chống chiếc gậy trúc đi duyệt thủy binh trên hạm đội.

Cuộc hội đàm hoàn toàn chỉ là hình thức, phái đoàn Pháp vẫn bám giữ quan điểm thực dân, nên nội dung không có tiến triển gì.

Trên đường đáp máy bay về Hà Nội, Tướng Xalăng đi cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi Người đánh giá thế nào về việc gặp gỡ viên Cao ủy Pháp. Cụ lạnh lùng trả lời: Nếu đô đốc muốn đem tàu bè ra để lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể đi ngược dòng sông của chúng tôi.

(Theo Côbêlé, trích trong cuốn Đồng chí Hồ Chí Minh, Mátxcơva, 1985).

21. Ở trường Đảng

Một sáng mùa Thu tháng Tám năm 1958, Bác Hồ đến thăm Trường Đảng Lê Hồng Phong1, Hà Nội. Được tin Bác đến, mọi người ùa ra, ai cũng muốn đến gần Bác. Các đồng chí miền Nam và các đồng chí ở tỉnh xa chưa được gặp Bác lần nào càng sung sướng nghẹn ngào. Có đồng chí rưng rưng nước mắt.

Bác mặc bộ quần áo kaki giản dị. Dáng Bác đi khoan thai mà nhanh nhẹn. Bác vẫy tay, tươi cười chào mọi người. Ai cũng tưởng Bác vào hội trường nói chuyện. Nhưng Bác lại đi thăm nơi ăn, chốn ở của học viên trước. Bác vào một nhà ở tập thể, chăm chú xem cách sắp đặt màn, quần áo. Thấy chỗ ở còn chật chội, chưa ngăn nắp. Bác hỏi:

- Nước ta còn nghèo, ta chưa có nhà rộng để ở. Nhưng nếu biết sắp đặt gọn gàng, đẹp mắt, các chú cũng tạo cho mình cuộc sống văn minh.

Biết Bác sẽ xem nhà vệ sinh, đồng chí Công, quản trị của trường thấy có một ngăn chưa kịp dọn, liền đóng cửa lại và đứng chắn phía trước. Bắt gặp vẻ mặt lúng túng của đồng chí, Bác hỏi:

- Chú đứng làm gì đó?

Đồng chí Công ấp a ấp úng:

- Dạ! Thưa Bác! Thưa... Bác ...

Bác phê bình ngay:

- Các chú người lớn cả, không nên để nhà vệ sinh bẩn thế.

Trở về nhà ăn, thấy anh chị em cấp dưỡng mổ một con lợn treo lên xà nhà. Bác cười hỏi đồng chí quản lý:

- Các chú mổ lợn có nộp thuế sát sinh không?

Đồng chí quản lý đáp:

- Thưa Bác có ạ!

Bác khen:

- Thế là tốt, trường Đảng phải gương mẫu chấp hành chính sách.

Đến chỗ nấu cơm, thấy có rổ rau muống luộc, Bác hỏi chị cấp dưỡng:

- Cô luộc rau muống, có ớt, có rau thơm và quả sấu dầm nước luộc rau để ăn không?

Chị Mão trả lời:

- Dạ thưa Bác không ạ!

Quay sang đồng chí Phó Giám đốc, Bác bảo:

- Ở đây có nhiều đất bỏ không, các chú nên tăng gia thêm nhiều rau, nhiều ớt mà dùng.

Bác vừa bước chân vào hội trường thì những tràng vỗ tay vang lên không dứt. Cả hội trường đứng dậy hoan hô đón chào Bác. Bác thân mật vẫy tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống. Bác hỏi chúng tôi:

- Các cô, các chú học có nhọc lắm không?

Để Bác vui lòng chúng tôi đồng thanh trả lời:

- Thưa Bác không ạ!

Không ngờ Bác lại nói:

- Như vậy, là chưa được. Học tập cũng như làm cách mạng, cũng gian nan, vất vả như làm cách mạng. Có thế mới đạt kết quả cao. Rồi Bác nói chuyện:

- Trường Đảng là trường học để đào tạo những chiến sỹ tiên phong phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô sản, các cô, các chú đều là những cán bộ cốt cán của Đảng. Việc học tập không nhằm biến các cô, các chú thành người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các cô, các chú tốt hơn. Như thế học tập lý luận cốt là để áp dụng vào thực tế. Học đi đôi với hành, có học mới làm việc được... Không ai có thể cho mình là người giỏi lý luận. Do đó, cần phải nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà, đoàn kết giúp nhau học tập tốt. Cá nhân chủ nghĩa, chủ quan, kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập. Các cô, các chú có đồng ý với Bác như vậy không?

Cả hội trường vang lên: "Thưa Bác, có ạ!".

Bác bắt nhịp cho toàn trường hát bài "Kết đoàn". Vừa hát Bác vừa đưa tay đánh nhịp. Chúng tôi nhìn Bác lòng dâng trào xúc động. Một niềm yêu kính mênh mông tràn ngập hội trường.

Thực hiện lời Bác dạy, trường Đảng đã phấn đấu "dạy tốt, học tốt, rèn luyện tốt". Những luống rau xanh ngắt, những cây dừa, cây sâu trĩu quả, quanh năm hoa lá soi bóng xuống mặt ao; những rặng nhãn Bác Hồ, làm cảnh quan của trường thêm đẹp.

(Theo Vương Đình Thường, báo Hà Nội mới, 1980)

22. Có thêm nhiều Cốc

Mồng 1 Tết Kỷ Dậu (1969), Bác đến thăm bộ đội Phòng không - Không quân. Bác nhìn khắp hội trường, thấy nhiều cán bộ, chiến sỹ lập được thành tích lấp lánh Huy chương. Bác tỏ vẻ hài lòng. Nhưng Bác vẫn nhắc nhở thành tích bắn rơi máy bay Mỹ là công lao của cả tập thể. Bác còn cho gọi các chiến sỹ nuôi quân, thông tin, bác sĩ, y tế lên để Bác bắt tay.

Tiếp đó, Bác tươi cười:

- Cuộc họp mặt hôm nay có mấy đồng chí là anh hùng? Đồng chí nào bắn rơi được nhiều máy bay nhất?

Câu hỏi của Bác khiến chúng tôi hết sức phấn khởi.

Sự trưởng thành của không quân trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ba năm qua đã cho phép chúng tôi có được những món quà xứng đáng để chúc thọ Bác nhân dịp đầu năm.

- Thưa Bác đồng chí Nguyễn Văn Cốc ạ!

Bác nhìn khắp hội trường, rồi nói:

- Chú Cốc đâu? Lên đây với Bác.

Một thanh niên vẻ mặt hiền hậu, vóc người to đậm, ngực lấp lánh những tấm Huy chương và Huy hiệu Bác Hồ, từ những hàng ghế phía sau, mặt đỏ bừng vì xúc động, tiến lên phía trước Bác, nói nhỏ nhẹ:

- Thưa Bác, cháu đây ạ.

Bác cầm tay Cốc hỏi:

- Chú bắn được mấy máy bay giặc Mỹ?

- Thưa Bác, chín chiếc ạ.                                                                                                     

- Chú được thưởng mấy Huy hiệu của Bác?

- Thưa... chín chiếc ạ.

Bác nhìn những chiếc Huy hiệu năm cánh sao màu sáng bạc trên ngực Cốc như để kiểm tra rồi nói:

- Chú còn phải cố gắng nhiều Huy hiệu hơn nữa... - Rõ ràng Bác đang vui, niềm vui của Bác truyền lan đến chúng tôi. Tiếng cười rộn cả hội trường.

Bác lại nói:

- Năm nay là năm Kỷ Dậu, năm con gà. Theo tiếng Pháp, Cốc2 là con gà... Năm mới, Bác mong không quân có thêm Cốc hơn nữa...

Không ngày đầu xuân nào chúng tôi cảm thấy vui vẻ và ấm áp như mùa xuân năm ấy. Cũng không ai nghĩ đây là lần cuối cùng chúng tôi được nghe Bác dạy bảo...

(Theo hồi ức của Trung tướng Đào Đình Luyện, trích trong cuốn Người cha thân yêu, Nxb. Quân đội nhân dân, 1986).

23. Con đường tuổi trẻ

Chủ nhật ngày 16-10-1958, 100 học sinh các trường Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương và Nguyễn Huệ đang lao động xây dựng mở rộng đường Cổ Ngư thì Bác Hồ đến.

Bác nói: "Hôm nay, Bác đến thăm các cháu tham gia lao động xây dựng Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bác rất vui mừng thấy ở đây các cháu có nam, nữ, các cháu miền Bắc, miền Nam đều khỏe mạnh, hăng hái lao động, như thế là tốt...".

Bác dặn dò học sinh các trường thi đua nhau cùng làm tốt, phát huy sáng kiến tăng năng suất lao động... Bác sẽ đổi tên con đường này là đường Thanh Niên.

Quan tâm tới công trình của tuổi trẻ Thủ đô, ngày 06-6-1959, Bác Hồ lại đến thăm lần thứ hai giữa lúc học sinh nghỉ hè, tham gia lao động rất đông. Con đường hoàn thành, ngày 05-02-1961 Người đến trồng cây ở vườn hoa đường Thanh Niên.

Được vinh dự tham gia trồng cây với Người có các đại biểu về dự Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam thành phố Hà Nội.

Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện về lợi ích việc trồng cây: "Nếu mỗi thanh niên một năm trồng 3 cây và chăm sóc thật tốt, 8 triệu thanh niên miền Bắc sẽ trồng được 24 triệu cây, 5 năm sẽ trồng 120 triệu cây. Nếu đem trồng số cây ấy trên đường nối liền Hà Nội - Mạc Tư Khoa thì con đường chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản càng xanh tươi".

(Trích trong cuốn Bác Hồ với nhân dân Hà Nội, Hà Nội, 1980)

24. Các cháu gái ngồi đằng trước

Trong đoàn đại biểu Thủ đô đi dự Đại hội liên hoan anh hùng chiến sỹ thi đua năm 1962, tôi là người nhỏ tuổi nhất.

Hồi đó tôi mới vào làm việc ở Xí nghiệp dệt thảm len Hà Nội được hơn một năm và cũng mới là chiến sỹ thi đua năm ấy. Thật bất ngờ và sung sướng, chính tại Đại hội này, lần đầu trong, đời tôi được nhìn thấy Bác tường tận, được Bác hỏi han và quấn quýt bên Bác.

Bữa đó, Bác sĩ Trần Duy Hưng dẫn tôi đến trước mặt Bác và nói:

- Thưa Bác, đây là cháu Thư, Việt kiều Thái Lan mới về nước, chiến sỹ thi đua của Hà Nội.

Bác cười hiền hậu, trìu mến nhìn tôi rồi hỏi:

- Cháu về nước bao lâu rồi?

- Thưa Bác, hơn một năm rồi ạ!

Trả lời xong, tôi dán mắt vào Bác. Thấy da dẻ Bác hồng hào, thấy những sợi râu trắng như cước của Bác, tôi hồ hởi nghĩ đến nỗi vui mừng của mẹ tôi khi được nghe tôi kể tỉ mỉ về Bác.

Chợt Bác cười rất vui vẻ, bảo:

- Về nước được một năm rồi thì không còn là kiều bào nữa.

Rồi Bác ân cần dặn dò:

- Bây giờ về nước có điều kiện học tập, cháu phải cố gắng tiến bộ nhiều hơn nữa!

Tôi định đáp: "Thưa Bác, cháu xin vâng lời Bác dạy" nhưng sao hồi hộp quá, không nói lên lời. Vừa lúc ấy, mọi người vòng trong vòng ngoài vây kín lấy Bác. Vừa ngẩn ngơ vừa luyến tiếc, thừa thấy mình thiếu sót vì chưa kịp hứa hẹn với Bác điều gì cả.

Giờ giải lao hôm sau, chúng tôi lại quây quần bên Bác như một đàn cháu gái với người ông hiền hậu. Khi nghe tin được chụp ảnh chung với Bác, mọi người reo lên mừng rỡ. Bọn con gái chúng tôi bị chen bật ra sau, đang phụng phịu, bực tức thì bỗng nghe Bác nói:

- Cho các cháu gái ngồi vào đằng trước!

Chúng tôi mừng quýnh, túm lấy áo nhau, líu tíu xô mọi người, chạy ùa vào. Chị Minh, ngồi cạnh Bác, ôm lấy tay Bác, còn tôi ngồi chếch ngay phía sau Bác.

Những ngày ở Đại hội, nhiều anh chị em cứ tị với chúng tôi. Quả thật, đối với cháu gái, bao giờ Bác cũng dành cho sự quan tâm đặc biệt.

Tấm ảnh kỷ niệm ngày ấy tôi đem phóng to ra, giữ gìn thật kỹ lưỡng.

(Theo Đinh Thị Kim Thư: Chúng ta có Bác Hồ, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1970).

Thanh Huyền (tổng hợp)

Chú thích:

1. Nay là Trường đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong.
2. Cop = con gà sống.


 25. Bác chọn nhà ở trong Phủ toàn quyền

Những ngày đầu tiếp quản Thủ đô, Trung ương bố trí tạm nơi làm việc của Bác ở khu Đồn Thủy cũ (nay là Bệnh viện Hữu nghị). Ít ngày sau, văn phòng mời Bác về ở một biệt thự. Bác bảo đưa Bác đi xem nơi đó trước đã. Theo Bác hôm ấy có anh Bẩy, anh Kiên, anh Vũ Kỳ và một số đồng chí phục vụ bảo vệ Bác.

Biệt thự đó vốn là dinh của tên Toàn quyền Pháp cai trị toàn Đông Dương xây dựng những năm đầu thế kỷ XX. Thời Pháp thuộc, Phủ toàn quyền luôn được canh phòng cẩn mật, người Việt ít ai dám đến gần. Phía trước dinh là đường Hùng Vương, người và xe đi lại tấp nập. Bây giờ bên cổng sắt lớn uốn hoa văn sơn xanh tươi rói là hai chiến sĩ quân phục chỉnh tề đang đứng gác. Ngôi nhà lớn sừng sững với chiếc thềm cao có nhiều bậc đi lên. Thật xứng đáng là nơi làm việc của vị lãnh tụ đứng đầu Đảng và Nhà nước ta.

Bác dạo quanh ngôi nhà một lượt rồi nhẹ nhàng nói:

Ngôi nhà đẹp đây, nhưng Bác thấy nói có "mùi thực dân". Các chú hãy quét dọn sạch sẽ, sửa chữa có thể làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi. Bác không ở đây đâu. Đưa Bác xem những ngôi nhà khác trong khu vực này.

Chúng tôi đưa Bác qua khu vườn rất rộng ở phía trái. Không khí ở đây thật mát mẻ, yên tĩnh, xa hẳn tiếng náo nhiệt ở bên ngoài. Trong vườn có nhiều cây. Có những cây cổ thụ tán xòe rộng che rợp cả một vùng...

Bác ung dung vừa đi vừa ngắm cảnh nét mặt thư thái, ánh mắt vui vui. Đến dãy nhà trước đây dành cho những người phục dịch trong Phủ Toàn quyền, Bác dừng lại xem kỹ rồi chỉ một căn nhỏ nhất, nói:

Các chú sắp xếp cho Bác ở nhà này.

Đó là căn nhà mái bằng, cách sàn nhà hiện nay độ 30 mét, là nơi ở của người thợ điện trước kia. Có lẽ lâu ngày không có người ở, ít ai qua lại, nên cây hoang, cỏ dại phủ đầy lối di. Nhà có hai phòng, mỗi phòng khoảng 10 mét vuông. Chúng tôi biết khi Bác đã quyết định điều gì là đã cân nhắc kỹ và ít khi thay đổi, nên phải tuân theo. Chỉ một thời gian ngắn do tu sửa và Bác tự làm thêm, cảnh quan đã thay đổi khác hẳn. Con đường vào nhà được rải sỏi. Bác cho trồng hàng râm bụt chồi non lên xanh biếc. Cái ao đầy rác được nạo vét sạch bùn. Bác cho thả cá chép và trắm cỏ.

Về Hà Nội, Bác vẫn giữ nếp sống quen giản dị như hồi ở chiến khu. Bác ở đâu là nơi ấy gọn gàng, sạch sẽ. Bác luôn nhắc chúng tôi chăn nuôi, trồng rau để cải thiện bữa ăn và bao giờ Bác cũng làm trước.

Bác còn ở một phòng, còn phòng kia là nơi làm việc. Mùa đông có phần ấm áp, nhưng do mùa hè trần thấp nên buổi trưa và chiều vẫn nóng. Bác ít dùng quạt bàn. Bác dùng chiếc quạt bằng lá cọ, lấy lá cây trong vườn, ép rồi phơi khô.

Bác - vị Chủ tịch nước - đã chọn nơi ở và làm việc trong Phủ Toàn quyền cũ như thế đấy.

(Theo Phạm Lê Ninh, trích trong cuốn Nhớ mãi lời Bác, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1987)

26. Tết kháng chiến thứ nhất

Tết Đinh Hợi năm 1947, Bác Hồ lúc này đang ở xóm Lai Cài, thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất. Bác vẫn giữ nếp làm việc đúng giờ, mặc cảnh vật xung quanh thay đổi. Cái bàn viết được kê sát giường nằm. Bác ngồi ngay trên giường thay ghế. Ba mươi Tết mà ngày vẫn hai bữa cơm độn sắn. Chiều hôm ấy đào xong hầm tránh máy bay, người lấm bẩn, mặc trời rét, anh em chúng tôi kéo nhau ra sông Tích gần nửa cây số tắm, rất vui.

Chương trình của Bác là chiều tối họp Hội đồng Chính phủ, rồi đến Đài Phát thanh đọc lời chúc năm mới đồng bào vào đúng Giao thừa.

Xe ô tô chạy một lát thì sa một bánh xuống ruộng. Trời mưa bụi, đường đất sét trơn. May ruộng nông nên xe không bị lật. Trời nhá nhem tối. Tìm được mấy bà con đốt đuốc khiêng hộ xe lên cũng mất hàng giờ. Chín giờ tối, xe mới tới Quốc Oai. Bác vào họp phiên họp tất niên của Hội đồng Chính phủ, chúc Tết và bàn định một số công việc. Mười giờ rưỡi xe đi đến Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Trời đổ mưa mau. Đường đất càng lầy và trơn.

Xe vòng qua Xuân Mai rồi rẽ quặt xuống. Gần 12 giờ đêm mới tới chùa Trầm. Đài Phát thanh đặt trong hang núi đá. Điện sáng trưng, máy chuyển ầm ầm.

Bác vào buồng thu nói trước máy. Bài thơ "Chúc năm mới":

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.                                                                                       

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!                                                                                  

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Xong nhiệm vụ, Bác nói chuyện thân mật với anh chị em cán bộ, nhân viên Đài Phát thanh. Có khá nhiều anh em, bè bạn các nước đến góp phần với Việt Nam kháng chiến, đứng cùng trong hàng ngũ chống đế quốc!

Sắp ra về thì sư cụ chùa Trầm xin "yết kiến". Sư cụ thành kính như trên khóa lễ, tay chắp, giọng run run, mắt đăm đăm nhìn Bác. Chú tiểu thành kính đội mâm bánh chưng đặt xuống giường:

- Đây là lòng thành của nhà chùa kính dâng, mong Cụ Chủ tịch thu nhận cho!

Bác cám ơn sư cụ, chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công!

Giờ này chẳng còn nhờ được ai khênh xe. Đầu năm mới, sợ rông. Anh tài đành ngủ coi xe. Còn Bác và chúng tôi dù đường lầy lội cũng cuốc bộ về nhà để "xông đất".

Ba giờ rưỡi sáng mới tới nhà ông Khuê, nơi Bác ở. Làng xóm im lặng như tờ. Tiếng gà gáy cầm canh đâu đó.

Cái Tết kháng chiến đầu tiên của Bác Hồ như thế đấy!

(Theo Vũ Kỳ, trích trong cuốn  Những bức thư kể chuyện Bác Hồ, Nxb. Sự thật, 1985, và Tư liệu của Ban lịch sử Đảng Thạch Thất).

27. Cây Đào dâng Bác

Đã từ lâu người dân trong xã Nhật Tân, một xã trồng đào nổi tiếng muốn dâng lên Bác Hồ một cành đào do chính mình trồng để Bác đón mùa Xuân. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Ủy ban Hành chính xã đã báo cáo lên xin ý kiến Bác và được chấp thuận. Các cụ đã đi khắp bốn thôn chọn cây đào đẹp nhất và sáng ngày 28 tháng Chạp năm Bính Thân (ngày 28-01-1957) đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân đã mang cây đào lên dâng Bác.

Cây đào được đánh cả gốc, chằng buộc rất cẩn thận, trên tán được đính băng vải đỏ nổi bật dòng chữ vàng "Nhân dân lao động xã Nhật Tân kính tặng Hồ Chủ tịch". Ô tô đưa các cụ cùng cây đào đến phòng khách của Bác ở Phủ Chủ tịch. Trong lúc các cụ đang nghỉ ngơi uống nước, cánh cửa mở, Bác Hồ tươi cười từ trong nhà đi ra. Tất cả đứng dậy chào Bác. Bác mời mọi người uống nước và chuyện trò thân mật. Bác hỏi tình hình sức khỏe và đời sống nhân dân trong xã. Đồng chí Nguyễn Văn Tự, Chủ tịch xã xin phép thay mặt các cụ trả lời Bác:

- Dạ, thưa Bác sức khỏe của nhân dân trong xã được trạm y tế chăm lo. Đời sống bà con khá hơn trước, không còn cảnh ăn bữa sáng lo bữa tối, ăn đã đủ no, mặc ấm và được học hành ạ!

Bác lại hỏi: "Tết năm nay các cụ ăn Tết có to không, có phấn khởi không? Tết năm nay các cụ chuẩn bị thế nào?". Nghe trả lời xong, Bác bảo: "Các chú tổ chức cho nhân dân ăn Tết phấn khởi đấy nhưng phải nhớ tiết kiệm. Vì đất nước ta còn nghèo, lại vừa trải qua chiến tranh, còn phải làm nhiều việc lớn hơn".

Bác ngắm cây đào rồi hỏi tiếp: "Cây đào này các cụ trồng đã được mấy năm rồi?".

- Dạ thưa Bác, cây này đã trồng được ba năm rồi ạ.

- Ba năm, sao không để gốc lại, đem đánh cả gốc sang năm lấy đâu hoa để chơi nữa?

- Dạ thưa Bác, cây đào đã lớn, đem dâng lên Bác, muốn để Bác chơi được lâu nên đánh cả gốc...

Bác tặng mỗi cụ một thiếp chúc mừng năm mới của Bác. Sau đó Bác đưa cho đồng chí Tự 10 tờ thiếp và dặn:

- Chú mang về tặng các cụ cao tuổi cho Bác.

Cuối cùng Bác nói rất thân mật: "Xin cảm ơn các cụ và các đồng chí đã đem tặng tôi cây đào để tôi vui Tết. Nhưng sang năm các cụ thôi không phải đem tặng tôi nữa, tôi sẽ tự trồng cây đào này để có hoa chơi Tết".

(Theo Trần Minh Tuấn, trích trong cuốn  Những lần đón Bác, Hà Nội, 1984).

28. Một giờ bên Bác

Cuối tháng 7 năm 1969, giữa lúc nước nhà đang có bao việc lớn trọng đại phải lo, Bác Hồ của chúng ta lại lưu ý đến một điểm chưa tốt trong sinh hoạt đời thường ở Thủ đô. Đó là tình trạng nhân dân phải xếp hàng dài để mua hàng, vừa lãng phí thời gian, vừa gây lộn xộn mất trật tự đường phố.

Và tôi, được Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi lên trình bày về vận trù học, về khả năng vận dụng toán học vào công tác phân phối hàng tiêu dùng.                                        

Tôi vô cùng xúc động trước thái độ phụ trách của Bác đối với các vấn đề đời sống của quần chúng. Những ý kiến Bác phát biểu thể hiện rất rõ tất cả nỗi lo lắng của Người làm sao giảm bớt khó khăn trong sinh hoạt của nhân dân Thành phố cố gắng để sự phân phối hàng tiêu dùng được công bằng, hợp lý, dân chủ và thuận tiện. Thủ tướng có nhắc lại câu nói của Bác trước đây: "Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng, không sợ khổ chỉ sợ lòng dân không yên".

Trong khi trình bày, có lúc tôi phải dẫn chứng cụ thể một vài thể thức bán hàng và phục vụ quá phiền phức ở một số cửa hàng của Hà Nội lúc ấy. Bác nghe, nét mặt lộ vẻ không vui. Bác hỏi dồn tôi:

- Những chuyện đó có thực không?

Và khi biết rõ sự thực đúng thế, Bác quay sang hỏi Thủ tướng và hai đồng chí lãnh đạo Bộ Nội thương và Thành ủy, Bác bảo:

- Dân chủ mà thành ra quan chủ! Hà Nội mà còn nhiều quan như vậy sao?

Tôi vẫn cảm thấy ân hận, tự trách mình có lẽ đã làm một điều vô ý thức, bởi vì từ lâu ai cũng biết Bác rất ghét bệnh quan liêu và rất phiền lòng khi chứng kiến hoặc nghe báo cáo về những biểu hiện của nó trong các cơ quan nhà nước ta. Tôi đâu biết rằng chỉ một tháng sau Bác đã ra đi và mãi mãi chẳng có thể nghe chúng tôi báo cáo lại việc làm với Bác. Khi ra về, Bác dặn dò tôi cố gắng, dường như Bác cũng nắm được những khó khăn mà người làm khoa học kỹ thuật còn gặp trong điều kiện đất nước ta lúc ấy và muốn nhắc nhở chúng tôi vì nhân dân phấn đấu vượt qua để đưa khoa học - kỹ thuật vào phục vụ sản xuất và đời sống.

(Theo Giáo sư Hoàng Tụy, trích trong cuốn  Những lần gặp Bác, Nxb. Đà Nng, 1985).

29. Ở Phủ Chủ tịch một chiều Đông

Đầu buổi chiều một ngày cuối năm 1956.

Đoàn chúng tôi gồm hơn 300 đại biểu các tầng lớp phụ nữ Thủ đô, với đầy đủ các thành phần. Không ai bảo ai, bà nào, chị nào, cũng diện bộ quần áo đẹp nhất, mới nhất. Gương mặt ai cũng tươi cười, hớn hở.

Qua vườn hoa Cửa Nam là phố Cột Cờ, ô tô vẫn bon bon. Trên xe, một vài chị bỗng hỏi:

- Các chị ơi! Chúng mình đi gặp Trung ương hội cơ mà, sao lại đi lối này nhỉ?

Hết phố Cột Cờ, xe đi vào con đường dẫn đến Phủ Chủ tịch, chúng tôi đã thấy các chị Nguyễn Thị Thập, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Nguyễn Khoa Diệu Hồng, Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Hà Nội. Đang mải ngắm mấy bức tranh treo trong phòng, bỗng phía cửa trên, Bác đã nhanh nhẹn bước vào. Chúng tôi không nén được xúc động, vỗ tay rào rào. "Bác ạ! Bác ạ!". Bác gật đầu đáp lại, vẫy tay ra hiệu cho tất cả ngồi xuống.

Chúng tôi chăm chú nhìn Bác không chớp. Bác vẫn mặc quần áo kaki giản dị như ngày nào, vẫn vầng trán cao, đôi mắt sáng, dịu hiền.

Bác nhìn chúng tôi cất giọng thật ấm áp.

- Hôm nay, Bác rất vui được gặp đại biểu phụ nữ Thủ đô. Bác biết trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phụ nữ đã góp công lao to lớn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bảy mươi phần trăm dân công là phụ nữ.

Chị em đã gánh gạo qua những đèo cao, suối sâu, tiếp cho bộ đội ăn no, đánh thắng. Phụ nữ đã hy sinh rất nhiều trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong lòng địch, chị em phụ nữ Hà Nội đã đấu tranh từng giờ, từng phút chống kẻ địch, góp phần giải phóng Thủ đô. Đấu tranh trong lòng Hà Nội cũng anh hùng lắm chứ. Nhiều chị em đã anh dũng hy sinh.

Đôi mắt Bác chớp chớp. Bác rút khăn lau những giọt nước mắt đang từ từ lăn trên gò má. Bác thương phụ nữ vất vả. Bác thương những chị đã hy sinh, còn chúng tôi cũng muôn vàn thương Bác. Suốt cả cuộc đời Bác đã tận tụy hy sinh cho dân cho nước, không chút nghĩ đến hạnh phúc riêng tư.

Bác còn nói tiếp:

- Riêng Thủ đô ta, mấy năm gần đây, phụ nữ ta cùng toàn dân tích cực góp phần vào việc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Nhưng chúng ta còn phải làm nhiều hơn nữa cho thành phố sạch đẹp, nhân dân được ấm no. Các cô có hứa với Bác là sẽ làm được điều đó không nào?

Tất cả chúng tôi đồng thanh:

- Dạ thưa Bác, có ạ!

Bác cười vui, rồi Bác chỉ vào những đĩa bánh, đĩa kẹo bày trên bàn, bảo chúng tôi:

- Các cô ăn bánh, ăn kẹo đi, cô nào có cháu bé thì mang về cho cháu, có chồng thì mang về cho chồng, có người yêu thì mang về cho người yêu, nói là quà của Bác Hồ cho.

Được lời của Bác, chúng tôi phấn khởi chia nhau bánh kẹo.

- Nào, bây giờ Bác cháu ta chụp ảnh.

Chúng tôi cùng kéo ra cả thềm Phủ Chủ tịch. Chị nào cũng muốn đứng gần Bác để chụp ảnh.

Bác bảo:

- Ai cũng muốn đứng gần Bác thì không có chỗ cho Bác gái đứng à?

Chúng tôi còn chưa hiểu "Bác gái" nào thì Bác đã kéo đồng chí Trần Duy Hưng lại bảo: "Bác gái đây này".

Tất cả mọi người lại cười vui vẻ, Bác tiếp:

- Bây giờ những cô nào đứng phía trước thì ngồi xuống để những người đứng phía sau được rõ mặt hơn.

Chúng tôi nghe lời Bác. Anh Đinh Đăng Định đã chuẩn bị xong máy ảnh. Anh nhắc chúng tôi:

- Các chị tươi lên nhé. Nào tôi bắt đầu.                                                                                                                                                     ,

Anh bấm liền mấy "pô" ảnh.

Chúng tôi nghĩ, chụp ảnh xong sẽ được chào Bác ra về. Nhưng lúc chúng tôi quay lại, Bác Hồ kính yêu không còn đứng đó nữa, khiến chúng tôi ngẩn ngơ, luyến tiếc.

(Theo lời kể của một số đại biểu phụ nữ Thủ đô, trích trong cuốn  Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1985).

Thanh Huyền (tổng hợp)


 30. Cây đa cuối cùng

Từ mờ sớm chúng tôi đã cùng bà con xã viên tập trung đông đủ. Người người vui sướng, phấn khởi với đầy đủ dụng cụ đứng bao quanh đồi Yên Bồ. Chúng tôi đang hồi hộp trông chờ thì Bác đến. Bác Hồ đó, vẫn giản dị trong bộ quần áo bạc màu. Bác tươi cười chào mọi người. Lên đến đỉnh đồi, nơi Bác sẽ trồng cây đa ở đó, đồng chí Chu Công Tự, Bí thư Đảng ủy xã Vật Lại cảm động nói:

- Thưa Bác! Từ trước đến nay, chúng cháu chưa có dịp đón Bác về thăm. Sau khi phát động Tết trồng cây, chúng cháu làm đồi cây này đặt tên là "Đồi cây đón Bác" khu vực Bác sẽ về thăm. Nay, cháu đã có tuổi rồi, được đón Bác về, chúng cháu mừng không sao kể xiết...

Bác ân cần hỏi:

- Cháu bao nhiêu tuổi?

- Thưa Bác, cháu hơn năm mươi tuổi ạ.

- Thế vẫn còn trẻ chán...

Bác vui vẻ cười làm cho mọi người xung quanh cũng cười theo.

Sau đó Bác giải thích cho mọi người hiểu lợi ích của việc trồng cây. Bác nói ngắn gọn nhưng mỗi lời của Bác đã ghi sâu vào tâm khảm chúng tôi cho đến ngày nay. Tôi nhớ đại ý Bác nói: Bác tính nếu mỗi cây giá trị một đồng, chúng ta trồng một triệu cây được một triệu đồng, nếu trồng 10 triệu cây được 10 triệu đồng. Như vậy, trồng cây là một việc làm ít tốn kém mà lợi ích rất nhiều...

Sau khi nghe Bác hỏi một số bà con, chúng tôi mời Bác trồng cây, trước khi trồng Bác hỏi chúng tôi:

- Cây đa có rễ không?

Chúng tôi đáp:

- Thưa Bác có ạ!

Chúng tôi chưa hiểu vì sao Bác lại hỏi như vậy, Bác giải thích:                      

- Có lần Bác cũng đi trồng cây như thế này, nhưng các đồng chí không chuẩn bị trước nên chặt cành cây cắm xuống để Bác trồng.

Nghe xong chúng tôi cùng cười vui vẻ. Qua câu chuyện chúng tôi càng hiểu sâu sắc hơn những điều Người dạy bảo. Ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu năm ấy, ngờ đâu lại là lần cuối cùng gặp Bác và cũng là cây đa cuối cùng Bác trồng để lại cho lớp con cháu trên đất Thủ đô.

(Theo báo Hà Nội mới)

31. Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đảng bộ Hà Nội

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội là nơi Người đã ở và làm việc lâu nhất và cũng là nơi Bác dành sự quan tâm săn sóc hết sức đặc biệt. Bác luôn luôn mong "Thủ đô Hà Nội phải trở thành một Thủ đô xã hội chủ nghĩa", "Đảng bộ Thủ đô Hà Nội phải phấn đấu thành Đảng bộ vững mạnh".

Ngày 25-4-1959, tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Hà Nội, Người ân cần căn dặn:

"Thủ đô Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một Thủ đô xã hội chủ nghĩa. Muốn như thế mỗi một xí nghiệp, mỗi một đơn vị bộ đội, mỗi một trường học, mỗi một đường phố, mỗi một cơ quan, mỗi một nông thôn ở ngoại thành phải thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội.

... Số phụ nữ là đảng viên còn rất ít, cần phát triển thêm. Tóm lại, cần củng cố và phát triển đảng - cố nhiên là thận trọng - thành phần công nhân, nông dân, phụ nữ, đồng thời cũng chú ý phát triển thành phần khác như lao động trí óc.

Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Hà Nội lần thứ II (ngày 01 tháng 01 năm 1961) Bác đến nói chuyện và khuyên nhủ: "Nói chung, số đông cán bộ ta đều tận tụy, đều cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Nhưng vẫn còn một số bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc, do đó mà phạm nhiều sai lầm, khuyết điếm. Vài ví dụ: Đối với nhân dân thì quan liêu, mệnh lệnh, xem thường pháp luật, không tôn trọng quyền lợi của nhân dân (như có khi khám xét nhà mà không báo trước cho chủ nhà).

Tự tiện ra mệnh lệnh lung tung (như bán bánh ngọt không cho người mang bánh về nhà, bắt người ta ăn tại chỗ).

- Đối với tập thể thì kèn cựa địa vị, tính thiệt suy hơn, chỉ hỏi Đảng và Chính phủ đã làm gì cho mình, không tự hỏi mình đã làm gì có lợi ích cho nhân dân, cho xã hội.

- Đối với của công thì lãng phí, tham ô, ở các xí nghiệp và các hợp tác xã nhiều nơi đều có hiện tượng xấu như vậy.

- Đối với bản thân thì không lo trau dồi đạo đức cách mạng, không lo học tập để tiến bộ, mà chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp hơn người khác...

Trung ương mong rằng các đồng chí có những khuyết điểm đó thì cố gắng mà sửa chữa, các đồng chí khác giúp họ sửa chữa. Chúng ta thực hiện thật thà tự phê bình, và thành khẩn phê bình, để tiến bộ không ngừng.

Vài điều nữa cần phải chú ý:

Cần phải sắp xếp thời giờ họp và thời giờ học cho hợp lý. Hiện nay ở đâu cũng có nạn khai hội quá nhiều và quá lâu.

Đối với các Đảng bộ khu vực ngoại thành Bác khuyên nhủ:

"Bác nêu kinh nghiệm là đến nơi nào thấy đời sống nhân dân được nâng cao, làng xóm sạch sẽ, đường sá đẹp đẽ, giếng nước sạch, đủ ăn, nhân dân đoàn kết, hăng hái sản xuất, phong trào học tập văn hóa khá, bán lương thực cho Nhà nước đầy đủ, nhanh chóng, phong trào trồng cây tốt, mọi hủ tục giảm dần... thì ở đó công tác Đảng khá, chi bộ vững mạnh. Còn ngược lại thì công tác của Đảng bộ, của chi bộ nơi ấy chưa tốt...".

Lời Bác dạy mãi mãi là bài học lớn cho toàn Đảng bộ Thủ đô và mỗi đảng viên chúng ta, mãi mãi có ý nghĩa thực tiễn và không bao giờ cũ cả...

(Theo báo Hà Nội mới, ngày 21-5-1980)

32. Cây bách tán

Ngày 19-5-1946, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm ngày sinh lần thứ năm mươi sáu của Bác Hồ. Suốt ngày hôm đó, Bác phải tiếp những đoàn khách ở khắp mọi miền về chúc thọ Người. Nhưng có một đoàn khách đặc biệt và đông đảo khiến cho Bác không thể tiếp được ở trong nhà mà phải ra ngoài cửa mới đủ chỗ đứng. Đó là đoàn thiếu niên, nhi đồng, đại biểu cho tất cả các đội thiếu niên ở Thủ đô. Các em đánh trống, cầm cờ, rước ảnh Bác Hồ. Có những em gái, em trai bé nhỏ ôm những bó hoa lớn. Nhiều em trân trọng nâng niu trên tay những gói bao giấy bóng kính buộc dây nơ - đó là quà tặng của các em để mừng thọ ngày sinh của Bác kính yêu. Hồ Chủ tịch xúc động khi lần lượt các em đến bên Bác kính cẩn dâng quà tặng cho Người.

Khi được Bác "tuyên bố" sẽ trao tặng lại các em một món quà thì tất cả đều hồi hộp, ai cũng căng óc tự phỏng đoán xem đó sẽ là món quà gì: Kẹo bánh, khăn quàng, huy hiệu, giấy bút?

Một chậu cây trang trí những dây hoa và sao vàng óng ánh được các chú phục vụ đưa đến. Các cháu xuýt xoa khen cây đẹp, nhưng chẳng cháu nào biết tên của loài cây này. Bác liền giải thích:

- Đây là cây có tên gọi bách tán, giống như cây thông nhưng nhỏ và đẹp hơn. Bách tán có hàng trăm tán lá nhỏ bao quanh thân cây...

Bác dặn dò: "Các cháu đem về trồng, chăm cho cây lớn, cây tốt, thế là các cháu yêu Bác lắm đấy".

Nghe Bác dặn vậy, các cháu đều nhảy lên mừng rỡ, thích thú. Các em xin phép Bác, thay phiên nhau khiêng cây bách tán đem về vườn hoa trồng.

Cây bách tán đã bị chiến tranh tàn phá. Nhưng kỷ niệm về món quà Bác tặng các em thiếu nhi Hà Nội ngày nào đó còn sống mãi.       

(Theo Phong Nhã: Bác Hồ với thiếu nhi, Nxb. Kim đồng, 1985).

33. Không thăm gia đình cô thì thăm ai

Dịp Tết cổ truyền năm 1962, như thường lệ, lãnh đạo thành phố Hà Nội bố trí và mời Bác đi thăm một số gia đình có công với cách mạng, thương binh, liệt sỹ, cán bộ miền Nam tập kết, trí thức... Biết cảnh vệ sẽ đi trước chuẩn bị, Bác gọi tôi bảo:

- Ngoài những gia đình do thành phố báo trước, các chú tìm và đưa Bác đến thăm một gia đình công nhân thực sự còn nghèo. Nhớ phải giữ tuyệt đối bí mật.

Tối Giao thừa, sau khi Bác đi theo kế hoạch, lúc trở về, chúng tôi mời Bác đến thăm nhà một công nhân nghèo nhà ở ngõ cụt ở đầu phố Lý Thái Tổ - một xóm lao động phần lớn nhà tranh vách đất nằm sâu bên trong mặt phố.

Tôi đi trước dẫn đường. Ngọn đèn điện duy nhất trong ngõ không đủ sáng nên rất khó đi. Đến một căn nhà lụp xụp gặp một chị quảy đôi thùng gánh nước đi ra. Tôi hỏi:

- Chị Chín đây à?

Người đàn bà dừng bước:

- Vâng ạ, Bác hỏi em?

Vừa lúc đó, Bác đi đến, chị nhìn thấy và đôi thùng trên vai bỗng rơi xuống đất. Chị chạy lại ôm chặt hai bàn tay Bác, khuôn mặt đôn hậu đượm buồn nghẹn ngào:

- Bác... Bác Hồ ơi!

Nước mắt trào ra, chị cố ghìm tiếng khóc đi theo Bác vào nhà. Một gian vách đất lợp lá, cái giường gỗ cũ kỹ kê giữa nhà, mấy đứa trẻ đang lục tìm quần áo gấp thành đống ở góc giường. Trên bàn thờ có nải chuối xanh duy nhất và mấy tăm hương tỏa khói.

Tôi nhìn thấy Bác lặng đi, cặp mắt thương cảm, xót xa...

Bác bế đứa bé nhất, hôn vào má cháu, cài chiếc cúc áp ngực vừa tuột ra và hỏi chị Chín chuyện gia đình. Chị được năm con, chồng là công nhân nhà máy đèn đã chết, một mình phải đi làm phu khuân vác và gánh nước thuê lấy tiền nuôi con. Khi Bác hỏi về ăn Tết ra sao? Chị run run nói trong nước mắt:

- Thưa Bác, mẹ con cháu có gì đâu mà ăn Tết. Ngày mai, chỉ còn lon gạo bớt lại bữa chiều nay. Đến giờ này, cháu vẫn phải đi gánh nước để đổi gạo cho các cháu có miếng cơm trong ba ngày Tết.

Nói xong, chị dường như ân hận điều gì đó, đôi môi mím chặt cúi gằm xuống đất, không nhìn ai.

Bác hiền hậu và căn dặn các cháu phải ngoan, nghe lời mẹ, biết giữ vệ sinh và nhắc chị Chín cho các cháu đi học.

Cảm động trước sự ân cần chăm sóc của Bác, chị lễ phép nói:

- Thưa Bác... cháu... cháu không ngờ Bác lại...

Chị sụt sùi lau nước mắt. Bác hiểu ý nói luôn:

- Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai? Thôi Bác về.

Ra đến cửa, bà con nghe tin Bác đến đã vây đông. Họ sung sướng reo mừng:

- Bác Hồ! Bác Hồ muôn năm!

Bác giơ tay để mọi người im lặng, rồi chậm rãi nói:

Bác đến thăm bà con trong ngõ nhưng thời gian ít quá không đi khắp được. Bác phấn khởi được biết bà con rất vui. Nhưng Bác có ý kiến: Tại sao trong lúc bà con ăn Tết vui vẻ lại không nghĩ đến những gia đình còn nghèo và đang gặp khó khăn như nhà cô Chín đây.

Một ông cụ ngoài bảy mươi tuổi kính cẩn đáp:

- Thưa Bác, bà con trong ngõ chúng tôi thật là có lỗi. Chúng tôi xin hứa với Bác sẽ sửa ngay ạ! - Mọi người đồng thanh hưởng ứng. Bác cười:

- Thế thì tốt. Chào các cụ, chào đồng bào và các cháu. Bác về...

Ngay tối hôm ấy, khi Bộ Chính trị tập trung đến chúc Tết, Bác đã nói ngay chuyện thăm nhà chị Chín và kết luận: Ta đã có chính quyền trong tay, nhưng một số lãnh đạo địa phương còn nặng về hình thức. Họ chưa sâu sát dân nên phục vụ nhân dân chưa tốt. Hôm sau, Bác trực tiếp gặp và phê bình lãnh đạo thành phố. Ngay sau khi Bác về, bà con trong ngõ mỗi người một thứ, của ít lòng nhiều đã mang đến giúp mẹ con chị Chín. Thành phố đã trợ cấp khó khăn ngay cho gia đình chị. Mỗi cháu có một bộ quần áo mới phin hoa để vui Xuân. Sau đó, thành phố đã thu xếp việc làm ổn định cho chị Chín, các cháu đến tuổi được cắp sách đến trường. Cũng từ đây, nhiều gia đình lao động thiếu thốn, gặp khó khăn đã được chính quyền và nhân dân giúp đỡ chăm sóc mỗi dịp Xuân về.

(Theo Phan Văn Xoàn, trích trong cuốn Nhớ mãi lời Bác, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1987).

34. Suốt đời tôi ơn Bác

Suốt đời tôi ơn Bác! Bác đã cho tôi gặp Bác nhiều lần. Mỗi lần gặp Bác là tôi lại được thêm một bài học. Làm theo lời Bác dạy, tôi thấy mình tiến bộ về đạo đức, phục vụ cách mạng được nhiều hơn, tốt hơn.

Lần đầu tiên tôi được gặp Bác vào cuối thu năm 1945, tại một ngôi chùa cổ kính của Thủ đô: Chùa Bà Đá. Lúc này Hà Nội đang tràn đầy khí thế cách mạng. Tôi cũng tham gia công tác chính quyền (Chủ tịch khu phố) và phụ trách nhi đồng Cứu quốc... Một hôm, Hòa thượng Đại Nguyên đột ngột đến nhà tôi ở phố Hàng Bè, vừa thở vừa nói:

- "Ông Cụ" (hồi ấy chúng tôi quen gọi Bác bằng Cụ) sắp đến thăm chùa. Mời bác đến ngay cho.

Cụ Hồ đến thăm chùa! Tôi vội vàng thu xếp công việc, đi ngay. Bây giờ tôi còn làm Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam. Đây là một vinh dự rất lớn đối với tôi.

Trong chùa đèn nến sáng trưng. Các vị hòa thượng, tăng ni, phật tử tề tựu đông đủ, tấp nập. Bác đến, Người mặc bộ kaki màu vàng, tay cầm chiếc mũ cát đã cũ. Bác vừa đi vừa lấy mũ vẫy vẫy để đáp lại câu "a di đà phật" của các tăng ni, phật tử. Vào trong chùa, Bác hỏi thăm sức khỏe của chúng tôi và sau đây Bác lên Tam bảo nói chuyện. Hôm ấy, Bác nói rất nhiều. Tôi còn nhớ những đoạn đã ảnh hưởng đến tôi sâu sắc nhất như chuyện các vị sư ở Ngũ Đài Sơn bên Trung Quốc xuống núi đánh giặc Ma Vương, chuyện chúng sinh... Bác liên hệ đến tình hình lúc bây giờ và bảo Ma Vương là thực dân Pháp... Bác khuyên: Cần phải đoàn kết toàn dân, đoàn kết các tôn giáo. Bác nhìn các vị thượng tọa, tăng ni, nhắc câu Phật dạy "làm Phật pháp không xa rời thế gian"... và dặn mọi người tham gia công tác cứu đói, cứu dốt...

Bác đứng dậy ra về giữa tiếng "a di đà phật" đồng thanh của các tăng ni, phật tử âm vang cả phật đường.

Tôi nhận công việc cứu thương cho tự vệ Hà Nội khi kháng chiến bùng nổ (năm 1946). Địch vây tứ phía. Đang lúc hoang mang dao động, hai vị sư - Thượng tọa Đại Nguyên và một vị sư nữa đến gặp và bảo tôi - "Anh cho chúng tôi mượn quần áo để ra khu tự do"... hình ảnh hai vị sư trút áo cà sa đi chiến đấu làm tôi liên tưởng đến buổi nói chuyện của Bác ở chùa Bà Đá ngày nào. Bao nhiêu nỗi lo lắng của tôi lúc ấy tiêu tan hết và tôi đã tự nguyện đi vào cuộc kháng chiến gian khổ.

Làm tròn nhiệm vụ phục vụ trong Trung đoàn Thủ đô, tôi lại tiếp tục công tác ở y tế Việt Bắc.

... Tháng 3 năm 1952, tôi được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua và còn vinh dự được gặp Bác hai lần.

Những lúc gặp khó khăn, tôi lại thấy hiện lên trong trí nhớ cặp mắt hiền từ của Bác như nhắc nhở: "Luôn luôn cố gắng, luôn luôn tiến bộ" đó cũng là mấy câu sau mà Bác viết cho tôi trên một tờ giấy giang, trong một khu rừng ở Tuyên Quang - mà tôi vẫn giữ gìn như một gia bảo.

Tờ giấy ấy có cả chữ ký của Bác "Hồ Chí Minh".

(Theo Nguyễn Hữu Thuyết - bác sĩ Bệnh viện Xanh Pôn)

Thanh Huyền (tổng hợp)

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

44276772
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
3742
112871
400258
44276772