Chỉ mục bài viết

 3. Hà Nội mồng 02-9-1945

Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ, đèn và hoa. Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ những rặng cây, đỏ những mặt hồ.

Biểu ngữ bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nga chăng khắp các đường phố: "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Đả đảo chủ nghĩa thực dân Pháp", "Độc lập hay là chết", "Ủng hộ Chính phủ lâm thời", Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh", "Hoan nghênh phái bộ Đồng minh"...

Các nhà máy, các cửa hiệu buôn to, nhỏ đều nghỉ việc. Chợ búa không họp. Mọi hoạt động buôn bán, sản xuất của thành phố tạm ngừng, đồng bào Thủ đô già, trẻ, gái, trai đều xuống đường. Mọi người đều thấy mình cần phải có mặt trong ngày hội lớn đầu tiên của đất nước.

Những dòng người đủ mọi màu sắc, từ khắp các ngả kéo về vườn hoa Ba Đình.

Đội ngũ của những người thợ quần xanh, áo trắng, tràn đầy sức mạnh và niềm tin. Người lao động bình thường hôm nay đến ngày hội với tư thế đường hoàng của những người làm chủ đất nước, làm chủ tương lai.

Hàng chục vạn nông dân từ ngoại thành kéo vào. Những chiến sỹ dân quân mang theo côn, kiếm, mã tấu. Có những người vác theo cả những quả chùy đồng, những thanh long đao rút ra từ những giá vũ khí bày để trang trí trong các điện thờ. Trong hàng ngũ của các chị em phụ nữ nông thôn với những bộ quần áo ngày hội, có những người vấn khăn vàng, mặc áo tứ thân, thắt lưng hoa lý. Cũng chưa bao giờ người nông dân ở những làng xóm nghèo quanh Hà Nội đi vào thành phố với một niềm tự hào như ngày hôm ấy.

Những cụ già vẻ mặt nghiêm trang. Những cô gái Thủ đô hớn hở, áo màu rực rỡ.

Rộn ràng là các em thiếu nhi. Dù sự giàu nghèo của mỗi gia đình chưa đổi khác, nhưng từ ngày hôm nay, tất cả các em đều trở thành những người chủ nhỏ của đất nước độc lập. Theo nhịp còi của các anh, các chị phụ trách, các em khua rền trống ếch, dậm chân bước đều, hát vang những bài ca cách mạng.

Những nhà sư, những ông cố đạo cũng rời nơi tu hành, xuống đường, xếp thành đội ngũ đến dự ngày hội lớn của dân tộc.

Nắng mùa thu rất đẹp trên Quảng trường Ba Đình từ giờ phút này đã đi vào lịch sử. Đội danh dự đứng nghiêm trang chung quanh lễ đài mới dựng. Các chiến sỹ Quân giải phóng bữa trước theo Quân lệnh số 1 của Uỷ ban Khởi nghĩa, từ Tân Trào tiến về phía Nam "đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch". Hôm nay, họ đã đứng sát cánh cùng các đội tự vệ của công nhân thanh niên và lao động Thủ đô bảo vệ Chính phủ lâm thời.

Sau bao năm bôn ba khắp thế giới, mang án tử hình của đế quốc Pháp, qua mấy chục nhà tù và những ngày dài gối đất nằm sương, Bác đã trở về ra mắt trước một triệu đồng bào. Sự kiện lịch sử này mới hôm nào còn ở trong ước mơ.

Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã ra mắt đồng bào như một lãnh tụ lần đầu xuất hiện trước đông đảo quần chúng.

Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo kaki cao cổ, đi dép cao su trắng.

Mấy ngày hôm trước, một vấn đề được đặt ra là phải có một bộ quần áo để Bác mặc khi Chính phủ ra mắt đồng bào. Cuối cùng, Bác đã chọn bộ quần áo này. Hai mươi bốn năm làm Chủ tịch nước, trong những ngày lễ lớn của dân tộc, trong những cuộc đi thăm nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất hiện với một hình ảnh giản dị, không thay đổi. Vẫn bộ quần áo vải, trên ngực không một tấm huân chương, y như lần đầu Bác đã ra mắt đồng bào.

Ông Cụ có dáng đi nhanh nhẹn. Dáng đi này cũng làm cho đôi người lúc đó hơi ngạc nhiên. Họ đã không nhìn thấy ở vị Chủ tịch dáng đi trang trọng của những người "sang". Giọng nói của Ông Cụ phảng phất: Giọng nói của một miền quê đất Nghệ An.

Bác đã xuất hiện trước một triệu đồng bào ngày hôm đó như vậy.

Lời của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc chiết, rõ ràng. Không phải là cái giọng hùng hồn người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng. Nhưng người ta tìm thấy ngay ở đó những tình cảm sâu sắc, ý chí kiên quyết; tất cả đều tràn đầy sức sống; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người.

Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi:

- Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?

Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm:

- Co.o.ó!

Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một. 

Đây là bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa giành được độc lập bằng cuộc chiến đấu suốt 80 năm của dân tộc. Đây còn là những lời lẽ tâm huyết, đầy cảm kích của đội tiên phong giác ngộ nhất của giai cấp cách mạng nhất, có những người con tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của dân tộc, trước máy chém, trước miệng súng của quân thù, đã từng giật tấm băng đen bịt mắt, hô lớn: "Việt Nam độc lập muôn năm!".

Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề Độc lập:

- Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: "Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh".

- Chúng tôi xin thề: "Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng".

- Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề:

"Không đi lính cho Pháp,

Không làm việc cho Pháp,

Không bán lương thực cho Pháp,

Không đưa đường cho Pháp!".

Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hòa làm một. Đó là lời thề của toàn dân kiên quyết thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa đọc để kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập:             

"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

"Bản án chế độ thực dân Pháp" đã có từ 30 năm trước đây. Nhưng hôm nay mới chính là ngày chế độ thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn dân Việt Nam công khai xét xử.

Lịch sử đã sang trang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Bản đồ thế giới phải sửa lại vì sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cùng với cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra trong suốt hạ tuần tháng 8, ngày Độc lập mồng 02-9 đã có một ý nghĩa cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị, tinh thần của dân tộc.

Điều lo lắng của Bác trước đây 30 năm: "Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh", hôm nay, không còn là điều khiến cho Người phải băn khoăn. Cả dân tộc đã hồi sinh.

Độc lập, tự do đã đến với mỗi người dân. Mỗi người đã thấy được giá trị thiêng liêng của nó, thấy trách nhiệm phải bảo vệ. Vô vàn khó khăn còn ở trước mắt. Nhưng đối với bọn đế quốc, muốn phục hồi lại thiên đàng đã mất, mọi việc cũng không còn dễ dàng như xưa...

(Hữu Mai ghi, trích từ cuốn sách: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1990).

4. Đuổi ruồi mà không vỡ bình

Sau Cách mạng Tháng Tám, quân Tàu Tưởng đại diện Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất chúng gây nhiều khó khăn cho chính quyền non trẻ của ta. Ngày nào hầu như cũng có bọn Tưởng đòi gặp Bác để yêu sách, quấy nhiễu. Nhìn chúng ngông nghênh, hống hách, chúng tôi căm lắm, nhưng vẫn phải nén giận làm lành. Nhưng bọn chúng được đằng chân lại muôn lân đằng đầu, thấy ta nhân nhượng chúng càng lấn tới. Chúng đã khiêu khích cả đơn vị bảo vệ Bác. Một lần anh em đi tập luyện, khi qua trạm kiểm soát của bọn Tưởng, chúng liền ngăn lại, đòi thu vũ khí và giữ một vài đồng chí. Ở nhà nghe tin, anh em chúng tôi bất bình lắm. Có người bực bội nói:

- Chúng đến nước ta đã không tôn trọng chủ quyền lại còn ngang ngược. Ta phải cho chúng một bài học để hiểu rằng không phải đến đây muốn làm gì cũng được!

Thấy chúng tôi bàn tán, Bác biết chuyện. Người hỏi:

- Các chú thấy ruồi nhặng có đáng ghét không?

- Thưa Bác, nó bẩn và hôi hám lắm ạ!

- Thế các chú có chiếc bình thủy tinh đẹp mà ruồi nhặng bậu vào thì làm thế nào?

Mỗi người trả lời theo cách riêng của mình.

Nghe xong các ý kiến, Bác ôn tồn giải thích:

- Chúng ta vừa mới giành được độc lập ví như chiếc bình quý, nhưng đang bị bọn ruồi nhặng làm bẩn. Nếu ta đập mạnh thì bọn ruồi chết nhưng vỡ bình. Vì vậy phải làm cách nào đuổi được ruồi mà không bị vỡ bình. Các chú phải bình tĩnh. Việc này Bác đã bảo các chú chỉ huy đơn vị giải quyết.

Chúng tôi đều hiểu ý nghĩa lời khuyên của Bác, từ đó cố tránh những va chạm không cần thiết và giữ được thái độ kiên nhẫn khi bị bọn chúng khiêu khích.

(Theo Hoàng Hữu Kháng, Phạm Bạn ghi, trích trong cuốn Nhớ mãi lời Bác, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1987).

5. Sức cảm hóa kỳ diệu

Cuối tháng 02-1946 cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội. Cốt để biết nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mà cụ đã nghe tiếng từ lâu là người như thế nào, chứ cụ nhất định không nhận chức vụ chi cả trong Chính phủ. Đặc biệt cụ lo lắng về cái mà cụ gọi là tình hình "đảng tranh".

Theo ý cụ thì Việt Minh, Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh đều tranh đấu cho dân, cho nước, các vị cầm đầu đều là người yêu nước, từng bôn ba hải ngoại, nay cần đặt quyền lợi quốc gia lên trên, chứ không nên vì chuyện đảng phái mà đả kích nhau mãi.

"Chí thành năng động, tấm lòng thành của Cụ Hồ làm đá cũng phải chuyển, huống là tôi". Đó là câu nói chân thành xúc động của cụ Huỳnh khi gặp Bác. Cho nên ngày 02-3-1946, tại buổi họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ Huỳnh Thúc Kháng đứng cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Cụ Huỳnh đã đặt vào Chủ tịch Hồ Chí Minh một sự tin tưởng hoàn toàn. Bắt tay vào công việc thực tế và theo lối dư luận của đông đảo nhân dân, cụ Huỳnh ngày càng tin tưởng vào những người lãnh đạo mới và thấy rõ bộ mặt thật của bọn Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh... Nhất là sau khi công an ta phát giác ra được đầy đủ tang chứng âm mưu vụ đảo chính ở phố Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân) và vụ bắt cóc người ở phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều) tháng 7-1946.

Từ đó cho đến cuối tháng 11-1946, cụ Huỳnh lên đường đi kinh lý các tỉnh Trung Bộ, cụ vẫn thường gọi Bác là vị "Cha già của dân tộc".

(Theo Báo Hà Nội mới, ngày 11-5-1980).

6. Bác giao cho chú đi cứu đói

Chính quyền đã về tay cách mạng, về tay nhân dân. Trong những ngày trứng nước ấy có bao nhiêu khó khăn. Tôi tạm bỏ nghề thầy thuốc và được ra làm Chủ tịch khu phố Chợ Hôm.

Nước sông Hồng lên cao. Nạn đê vỡ đe dọa. Nạn đói hàng ngày cướp đi bao người dân vô tội. Chưa hết. Lại thêm dịch chấy rận do quân Tàu Tưởng mang sang ngày một lan rộng. Tôi tận mắt nhìn thấy nhiều người ngắc ngoải trên vỉa hè. Hàng ngày xe ôtô, xe bò đi nhặt xác chết mang ra nghĩa địa chôn. Giữa lúc đó, tôi được gọi lên gặp Bác. Vừa vào, tôi đã được Bác ân cần hỏi han ngay. Bác nhìn một lượt các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời có mặt lúc đó: Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Lê Văn Hiến, Cù Huy Cận... rồi giọng nghẹn ngào, xúc động, Bác nói:

- Hàng triệu người mình đã chết đói. Và còn hàng vạn người đang bị đói. Bác cho chú nhiệm vụ đi cứu đói. Chú về bắt tay vào việc ngay đi...

Bác còn dặn dò tôi tỉ mỉ cách thức làm việc như thế nào và hỏi tôi còn có những khó khăn, vướng mắc gì nữa. Bác lại chu đáo nhắc thêm:

- Công việc này quan trọng lắm đây. Có khó khăn gì chú Hợp lên gặp Bác. Lên lúc nào cũng được, chú rõ chưa! Tôi không thể tưởng tượng ra phút hạnh phúc của đời tôi như thế này. Những người trí thức cũ như chúng tôi cũng được Bác yêu thương, tin cậy như vậy sao?

Thế là chỉ trong vòng mấy tháng sau ngày Tổng khởi nghĩa, những người thân trong gia đình tôi lần lượt được Bác giao công tác. Anh ruột tôi, kỹ sư Đỗ Xuân Dung được Bác giao trông nom đê điều, chống lũ lụt. Vợ tôi được giao việc cứu thương, cứu nạn, lập Hội Hồng thập tự. Và tôi được Bác trực tiếp gọi lên giao cho nhiệm vụ cứu đói. Chúng tôi sung sướng bảo nhau phải một lòng, một dạ theo cách mạng, xứng đáng với sự tin yêu của Bác Hồ.

(Theo Giáo sư Đỗ Xuân Hợp, trích trong cuốn Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân, Nxb. Quân đội nhân dân, 1984).

7. Đại đoàn kết, làm sao có lợi cho sự nghiệp chung

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thành công, chính quyền nhân dân chưa vững chắc và còn gặp nhiều khó khăn. Sau ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập và ra mắt Chính phủ lâm thời ít lâu, một lần Bác gọi tôi và hỏi:

- Chú có quen cụ Trần Trọng Kim và biết cụ ở đâu không?

Ai cũng biết Trần Trọng Kim là nhà học giả đứng đầu chính phủ do Nhật dựng nên sau cuộc đảo chính Pháp ở Đông Dương ngày 09-3-1945, tôi ít gặp nhưng có quen, vì trước cùng là nhà giáo, mặc dù ông ta nhiều tuổi hơn tôi. Bác hỏi tiếp:

- Nhà cụ ấy có ngõ để xe ôtô vào không?

Tôi xin Bác để tôi trực tiếp đi xem xét lại, chưa thể trả lời chính xác chi tiết này. Tôi hiểu Bác muốn có một cuộc gặp khá kín đáo để tránh mọi sự hiểu lầm hoặc bọn phản động phá rối về sau.   

Tôi đến phố Nhà rượu quan sát, về báo cáo Bác: Không có cổng cho xe vào! Tôi không chắc Bác Hồ có dịp gặp Trần Trọng Kim lần nào không, vì ít lâu sau có tin cụ biến mất khỏi Hà Nội không để lại dấu vết gì. Và rồi cụ mất âm thầm nơi xứ lạ quê người.

Cùng thời gian đó, Bác Hồ đã chủ động gặp cả Ngô Đình Diệm ra ẩn náu ở Hà Nội, bàn chuyện hợp tác giành độc lập cho nước nhà. Nhưng họ Ngô vốn nuôi đầu óc chống cộng kịch liệt, đã từ chối.

Hoặc lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa bùng nổ, Bác không quên cử đồng chí Phan Mỹ phụ trách Văn phòng Phủ Chủ tịch về tận quê đón cụ Phan Kế Toại, khâm sai đại thần cũ, mời ra làm việc. Cụ Phan mừng lắm, đã đi theo kháng chiến.

Tôi cũng còn nhớ buổi tiễn Bác từ Pari đi Toulon để đáp tàu biển về nước sau khi ký Tạm ước ngày 14-9-1946, khi xe lửa chuyển bánh, Bác Hồ nhắc tôi lần cuối:

- Chú nhớ tìm gặp các bạn quen, giữ quan hệ tốt với họ.

Tôi hiểu lời nhắc của Bác, vì trước đó Bác đã dặn dò kỹ. Chính quyền Pháp bây giờ thuộc về những người xã hội như Léon Blum, Moutet, thế lực không mạnh và còn do dự không muốn tiến hành chiến tranh ở Đông Dương, phải tìm cách tranh thủ.

Có thể nói Bác Hồ là một con người có lòng vì nước vì dân, mạnh dạn khai thác những khả năng nhỏ nhất để tháo gỡ tình hình phức tạp, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Bác khoan dung không hề định kiến quá khứ, tìm đến từng con người cụ thể, với ai cũng thử thuyết phục và dám dùng, kể cả lớp quan lại cũ, tất cả nhằm đạt mục đích cuối cùng là làm sao có lợi cho sự nghiệp chung.

(Giáo sư Hoàng Minh Giám kể, đăng trên báo Đại đoàn kết, ngày 22-01-1990).

Thanh Huyền (tổng hợp)
Còn nữa

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

45983651
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
5203
211402
622608
45983651