Chỉ mục bài viết

1. Bác dặn tôi giữ gìn sức khỏe

Tháng 7-1942, tôi có nhiệm vụ dẫn đồng chí Trần (Hoàng Sâm) cùng một số cán bộ đến các xã tổ chức tuyên truyền "tội ác phát xít Nhật". Bọn Pháp dò biết công việc của tôi. Chúng lùng bắt tôi, nhưng tôi trốn thoát. Chúng bắt vợ con tôi lên đồn, định lung lạc tinh thần để tôi ra đầu thú. Tôi rút vào hoạt động bí mật từ đó cùng với đồng chí Xích Thắng. Một lần, chúng tôi đang trao đổi tình hình thì có một đồng chí liên lạc người Mông đến trao thư của Ông Cụ hẹn gặp.

Đến một hang đá, chúng tôi gặp Ông Cụ cùng các đồng chí: Vũ Anh, Đặng Văn Cáp, Vân Trình, Lộc, Bình Dương đang quây quần bên chảo cháo gà sôi sùng sục trên bếp lửa. Đồng chí Xích Thắng giới thiệu tôi với Cụ. Ông Cụ chìa tay ra bắt và hỏi ngay chuyện vợ con tôi bị bắt. Cụ hỏi tôi có lo không. Tôi trả lời:

- Lo thì cũng lo nhưng làm thế nào được ạ. Chúng không bắt được mình thì chúng sẽ bắt vợ con hoặc bố mẹ, đánh vào tình cảm để hòng mình ra đầu thú. Chúng cũng không có cơm gạo đâu mà nuôi mình được. Đến một ngày nào đó, chúng sẽ phải trả giá. Tôi đã chuẩn bị tinh thần như vậy rồi.

Ông Cụ mỉm cười:

- Tất nhiên là như vậy. Nếu không hoạt động được công khai thì rút lui vào bí mật chứ sao. Rừng núi của ta rộng lớn như thế này, Tây lấy đâu ra quân lính để lùng bắt ta được. Chính vì ta thương vợ con mà ta đi làm cách mạng. Nếu bây giờ muốn gặp vợ con mà ra đầu thú thì sẽ bị chúng bắt bỏ tù. Rồi cả đời không được gặp vợ con nữa. Bây giờ chịu đựng thì một ngày gần đây sẽ được sum họp. Thôi, hãy ăn cháo đã.

Ông Cụ múc cháo cho từng người, đưa tận tay và giục ăn. Ăn xong, Ông Cụ giơ đồng hồ ra xem, hỏi chúng tôi đi hay ngủ lại. Chúng tôi đáp là muốn di ngay. Ông Cụ đồng ý và nói: Phải. Các đồng chí cũng nên về ngay để bám sát, ổn định tình hình. Nếu về thì phải dựa vào họ hàng, anh em thân thích để nắm tình hình của địch đã. Không được vào nhà mình ngay mà mắc bẫy của địch. Phải chọn cơ sở tốt. Không được bạ ai cũng bắt liên lạc. Bốn ngày sau, đồng chí quay lại báo cáo công việc.

Chúng tôi chào Ông Cụ và các đồng chí ra về. Đến lúc này, tôi mới biết Ông Cụ là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tôi mừng quá.

Đúng hẹn, tôi và đồng chí Xích Thắng quay về. Thấy mặt tôi đỏ gay, rên hư hử, Bác gọi đồng chí Cáp mang kim ra châm cứu cho tôi. Châm cứu cho tôi xong, Bác tập trung mọi người lại nghiên cứu tài liệu Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô. Bác giao cho một người đọc. Riêng tôi, Bác cho nằm nghe, nhưng không được ngủ. Sợ tôi không chú ý, bất thình lình Bác hỏi tôi: Tư bản chủ nghĩa là gì? Tôi trả lời: Thưa Cụ, tư là riêng, bản là vốn. Tư bản là vốn riêng ạ!

Bác không nói gì, lần lượt hỏi từng người. Mỗi người nói một cách, một ý khác nhau. Cuối cùng Bác hỏi đồng chí Vũ Anh. Đồng chí Vũ Anh trả lời đúng hơn cả. Bác kết luận:

- Định nghĩa như đồng chí Trinh (tên thật của đồng chí Vũ Anh) là đúng. Tư bản nếu hiểu theo nghĩa đen của chữ Trung Quốc là "vốn to". Song phải hiểu theo nghĩa bóng đó là những người có nhiều nhà máy, hầm mỏ, chuyên sống bằng bóc lột thợ thuyền…

Bốn ngày sau, khỏi sốt, tôi xin xuống làng công tác. Bác đưa tôi ra tận cửa hang. Thấy tôi còn xanh xao, Bác ân cần dặn dò giữ gìn sức khỏe để hoạt động lâu dài. Vừa bước được vài bước chân, đến mỏ đá hôm đầu tiên tôi biết Bác là lãnh tụ, bỗng tôi quay lại nhìn về phía hang, Bác vẫn đứng đó, vẫy tôi dặn với:

- Chú Hồng Mi, cố gắng công tác nhé. Nhưng phải giữ gìn sức khỏe đấy!

Sự quan tâm của Bác đối với cán bộ thật lớn lao ngay từ những câu nói rất đỗi giản dị ấy.

(Trịnh Nam Hiến (tức Lượng) kể, trích trong sách Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)

2. Những lời dạy bảo ân tình

Năm 1948, tôi đang công tác ở Liên khu 5 thì được phép đi điều trị ở một bệnh viện Trung ương tại chiến khu Việt Bắc.

Tuy ở căn cứ của Trung ương Đảng và Chính phủ nhưng trong khi ngày ngày nghỉ chờ tiêm thuốc, khám bệnh, tôi không dám nghĩ mình sẽ có dịp được gặp Bác thật. Thật bất ngờ, niềm hạnh phúc ấy lại đến với tôi. Nghe tin có một số cán bộ miền Nam ra chữa bệnh, Bác đến thăm. Cùng đi với Bác có anh Nguyễn Trọng Vĩnh. Lần này tôi thực sự được gặp Bác và còn được Bác thăm hỏi, trò chuyện. Bác đội mũ cát, mặc bộ quần áo nâu giản dị, khăn mặt vắt vai, chân đi dép cao su. Bác hồng hào, khỏe mạnh hơn nhiều so với hôm chúng tôi được thấy Bác ở cuộc mít tinh Tuần lễ vàng năm 1945. Dáng điệu của Bác thật là thanh thản, thoải mái. Bác đến bên giường tôi nằm, Bác hỏi:

- Chú tên là gì? Quê ở đâu?

Tôi thưa:

- Thưa Bác, cháu là Huỳnh Đắc Hương. Quê cháu ở Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Bác nói:

- Quảng Nam là đất cách mạng kiên cường. Các chú phải biết phát huy truyền thống đó. Chú còn trẻ, phải cố gắng chữa bệnh cho tốt để còn hoạt động lâu dài. Muốn chữa bệnh cũng phải có nghị lực như chiến đấu.

Bác còn hỏi một số tình hình và căn dặn các bác sỹ, y tá đi theo phải cố gắng chăm nom bệnh nhân cho thật tốt. Lần đầu tiên được ở cạnh Bác, được Bác hỏi han, tôi xúc động và lúng túng quá nên Bác hỏi gì tôi trả lời nấy và không nhớ là mình đã nói những gì. Cho đến khi Bác ra về, tôi vẫn còn ân hận là có nhiều điều muốn thưa với Bác mà cuối cùng không nói được lời nào. Tôi chỉ mới ngắm nhìn Bác.

Tôi biết Bác nghiện thuốc lá nặng, nhưng trong lúc thăm chúng tôi không thấy Bác hút. Bác tôn trọng nội quy của bệnh viện và không muốn làm ảnh hưởng đến chúng tôi. Tôi suy nghĩ mãi về hành động đó của Bác, thật giản dị mà cũng rất lớn lao. Bác để cho chúng tôi một bài học có giá trị giáo dục sâu sắc về ý thức tổ chức và kỷ luật.

Năm 1955, chúng tôi tập kết ra miền Bắc. Tôi công tác ở Cục Tổ chức thuộc Tổng cục Chính trị. Lúc ấy có chủ trương chuyển các đơn vị quân đội sang vừa sản xuất vừa luyện tập sẵn sàng chiến đấu. Sư đoàn 305 của Liên khu 5 được chuyển lên địa phận Phú Thọ, khu vực Thậm Thình. Bác muốn lên thăm anh em. Anh Nguyễn Chí Thanh cử tôi lên trước để chuẩn bị.

Thế là một lần nữa tôi vinh dự được ở bên Bác. Cuộc gặp gỡ diễn ra hết sức giản dị mà ấm cúng. Anh em quây quần bên Bác, chẳng khác nào như đàn con quấn quít bên cha. Bác trò chuyện, thăm hỏi anh em, Bác nói đến những thắng lợi to lớn của cách mạng và con đường phải đi tới. Bác căn dặn quân đội cách mạng phải chiến đấu giỏi nhưng cũng phải sản xuất giỏi. Cha ông ta ngày xưa đã có truyền thống khi có giặc thì toàn dân đánh giặc, khi đất nước hết giặc thì ra sức sản xuất. Sư đoàn 305 đã chiến đấu giỏi, luôn sẵn sàng chiến đấu để góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc và tiến tới thống nhất nước nhà. Bộ đội phải tôn trọng nhân dân, gắn bó với nhân dân, sống với nhân dân như cá với nước; phải kính trọng người già, phụ nữ, quý mến trẻ em; phải coi chỗ nào trên đất nước mình cũng là quê hương ruột thịt. Lời của Bác thật sự là những lời thân thiết của người cha dạy bảo các con, giản dị mà chân tình, dẽ hiểu mà sâu sắc, bao hàm một nội dung rộng lớn về tư tưởng cách mạng triệt để, về nhiệm vụ chiến lược của cả nước, vì mục tiêu chiến đấu và phẩm chất cách mạng của quân đội nhân dân.

Trước mắt, bước vào nhiệm vụ sản xuất, nhiều anh em còn băn khoăn lo lắng, nhưng sau khi nghe Bác nói thì ai cũng tin tưởng và thấy rõ trách nhiệm của mình.

Năm 1958, trong buổi lễ phong quân hàm của quân đội, tôi lại có dịp may mắn được gặp Bác. Được tham dự lễ có khoảng 20 cán bộ cả ba miền Bắc - Trung - Nam do Bộ Quốc phòng lựa chọn. Trong lễ tấn phong, Bác đã thân mật nói chuyện với anh em cán bộ cao cấp có mặt. Bác biểu dương quân đội đã hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao cho; đã có truyền thống vẻ vang là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Bác chỉ ra nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới. Bác nói: Quân đội ta phải kiên quyết bảo vệ những thành quả của cách mạng, tích cực tham gia công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm chỗ dựa vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Một lần nữa Bác lại nói đến sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đó là ý chí, tình cảm và quyết tâm của Bác. Ý chí của Bác cũng là ý của toàn dân, toàn quân ta. Bác nói tiếp: Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang ấy, quân đội ra phải là một quân đội nhân dân, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại. Mỗi đồng chí phải ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng, củng cố lập trường giai cấp công nhân, nâng cao trình độ chính trị và quân sự, phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội ta… Bác căn dặn chúng tôi nhiều điều về trách nhiệm, phẩm chất của người cán bộ quân đội cách mạng…

Năm 1965, sau những thắng lợi ở miền Nam, Trung ương điện các quân khu cử người ra báo cáo. Ở miền Nam là anh Trần Văn Trà, Liên khu 5 thì tôi được cử đi đại diện cho Quân khu.

Trong thời gian công tác ở Trung ương, anh Trà và tôi được Bác cho gọi đến ăn với Bác bữa cơm thân mật. Anh Nguyễn Chí Thanh cùng dự với chúng tôi. Bác khen quân và dân Nam Bộ đánh trận Bàu Bàng, quân và dân Tây Nguyên đánh trận Plâyme như vậy là tốt. Nó chứng tỏ quân và dân ta không những đánh được Mỹ mà còn đủ sức đánh thắng Mỹ.

Bác hỏi vui tôi:

- Địch dùng trực thăng vận, các chú đã bị nó vồ trượt lần nào chưa?

Tôi thưa:

- Thưa Bác, ở trận Plâyme, trong lúc anh Chánh và cháu đang kiểm tra chiến trường thì không ngờ nó ập đến nhanh quá, nhưng nhờ có cây mắc cỡ mà chúng cháu không việc gì.

- Cây mắc cỡ nào cao thế à?

- Thưa Bác, vâng. Cây mắc cỡ trong đó mọc thành rừng, che kín đất mà màu cây cũng giống màu đất.

Bác còn hỏi anh Trà và tôi cũng nhiều chuyện nữa và dặn dò chúng tôi nhiều điều. Bác so sánh sự khác nhau giữa đánh pháp trước đây và đánh Mỹ ngày nay. Pháp tuy yếu hơn Mỹ nhưng điều kiện chiến đấu của chúng ta ngày ấy khó khăm hơn nhiều. Ngày ấy thực sự là châu chấu đá voi, nhưng cuối cùng ta đã làm cho voi lòi ruột. Đó là thế thắng tất yếu của cách mạng. Còn ngày nay là cuộc đọ sức của hai lực sỹ. Tuy Mỹ là lực sỹ khổng lồ, vũ trang đến tận răng nhưng không có chính nghĩa, không có địa lợi nhân hòa. Còn ta tuy là lực sỹ tí hon nhưng sức mạnh của cả đất nước, có nhân dân, có lối đánh riêng của mình và có sự ủng hộ của cách mạng và nhân dân thế giới. Sức mạnh của ta là sức mạnh của nhân dân và là xu thế đi lên của lịch sử. Còn sức mạnh của địch là sức mạnh của xu thế đi xuống nên nó sẽ dần dần bị tàn lụi và thất bại. Tất nhiên là phải biết đánh cho chúng thất bại.

Câu chuyện thân mật của Bác đã giúp cho chúng tôi một bài học vô cùng sâu sắc về đấu tranh cách mạng và tinh thần lạc quan cách mạng.

Có một chuyện vui. Biết chúng tôi ở chiến trường ăn uống kham khổ, hôm đó Bác bảo làm thêm thức ăn. Thấy chúng tôi ăn đã no mà thức ăn còn nhiều, biết tính Bác, anh Nguyễn Chí Thanh muốn đỡ cho chúng tôi. Anh thưa với Bác:

- Bác ngồi chơi đã lâu, mời Bác về nghỉ cho đỡ mệt.

Bác rất tinh ý, Bác cười:

- Để Bác ngồi tiếp với các chú miền Nam thêm lúc nữa.

Bác hỏi chúng tôi có muốn nghe chuyện ngoại giao không? Chúng tôi chưa hiểu ý Bác ra sao thì Bác đã kể chuyện có lần đồng chí Môlôtốp gặp Thủ tướng Anh Sớcsin. Vừa chuốc rượu, Thủ tướng Anh vừa nói đùa đồng chí Môlôtốp:

- Các ông phê phán tôi là phản bội giai cấp, nhưng chính các ông cũng không phải người thuộc giai cấp vô sản. Còn chính tôi mới xuất thân từ nghèo khổ.

Sớcsin nói thế có ý khoe mình là người của Công Đảng - Đảng của công nhân.

Môlôtốp cười xòa:

- Thế là chúng ta đều là người phản bội giai cấp.

Kể xong, Bác cười vui:

- Ngoại giao thì thế nhưng ăn uống thì phải thật thà, phải ăn thật hết, không được bỏ thừa.

Chúng tôi cùng cười nhưng hết sức xúc động trước tấm lòng của Bác.

Hồi ấy, tôi vẫn còn bị sốt rét luôn, người yếu, ăn uống kém, nhưng hôm đó tôi đã ăn rất ngon, gấp đôi ngày thường. Tôi cũng vui vì đã làm vui lòng Bác.

Sau thời gian công tác ở Tây Nguyên, tôi được chuyển sang công tác ở Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Bắc.

Chúng tôi cũng được tin là thời gian này, Bác đang mệt. Lời dạy của Bác đã làm cho chúng tôi thêm bồi hồi xúc động. Tất cả chúng tôi, những chiến sỹ tình nguyện sang giúp bạn chiến đấu hoặc công tác ở Lào, không ai không thấm sâu, không thuộc lòng những lời Bác dạy: Phải biết yêu quý, tôn trọng núi sông, nhân dân, Tổ quốc mình. Giúp bạn cũng là tự bảo vệ mình. Lời dạy của Bác thể hiện tình nghĩa quốc tế cao cả, tình cảm quốc tế đẹp đẽ, đường lối quốc tế vô cùng trong sáng của Đảng ta.

Giữa lúc đó thì Quân ủy Trung ương triệu tập một hội nghị cán bộ cao cấp. Một số anh em ở Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, trong đó có tôi, được về dự. Nghe tin Bác ốm, cả hội nghị đều rất băn khoăn và mong muốn được thăm Bác. Chiều ý chúng tôi, Bác để cho chúng tôi được gặp Bác ở nhà khách Chính phủ. Bác vẫn đi lại được nhưng sức khỏe của Bác đã giảm sút nhiều. Bác ân cần dặn dò chúng tôi nhiều điều. Riêng về vấn đề giúp bạn Lào, Bác nhắc lại và nhấn mạnh là phải bảo vệ thật tốt cánh đồng Chum. Biết Bác mệt, anh em chúng tôi không ai dám nói nhiều mà chỉ ngồi nghe như nuốt từng lời Bác, nước mắt cứ rưng rưng. Riêng tôi, tôi cầu mong cho sức khỏe cả Bác tốt lên để Bác dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của chúng ta đến ngày toàn thắng, và thầm hứa với Người: "Chúng cháu xin thực hiện bằng được lời dạy của Bác".

(Huỳnh Đắc Hương kể, trích trong cuốn Bác Hồ với đất Quảng, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000).

3. Kỷ niệm lần gặp Bác

Năm 1955, chừng 20 học sinh Việt Nam người dân tộc Khmer và 30 học sinh của các dân tộc Tây Nguyên tập kết ra Bắc có trình độ lớp 4 trở lên đi học ở Trường Trung sơ cấp Sư phạm miền núi Trung ương cùng các bạn học sinh dân tộc thiểu số ở miền Bắc. Chúng tôi được nghe nhiều tiếng nói, âm sắc khác nhau của mỗi dân tộc thể hiện lòng yêu mến Bác Hồ bằng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình: Book Hồ, A Cha Hồ, Ava Hồ, Giàng Hồ, Ké Hồ, Prak Hồ, Um Hồ… và lúc nào chúng tôi cũng mong được gặp Người. Năm học 1956, ước mơ được gặp Prak Hồ của chúng tôi thành sự thật. Người đi thăm lớp học, nơi ở, nhà bếp, sân chơi,… của chúng tôi. Người dặn dò:

- Các cháu là con em các dân tộc trong cả nước về đây học tập để sau này trở thành thầy cô giáo phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em một nhà. Cố gắng học thật tốt để đem hiểu biết đó xây dựng quê hương mình. Các cháu phải có trách nhiệm mang ánh sáng văn hóa của Đảng về thắp sáng bản mường, buôn rẫy, phum sóc của mình…

Rồi Prak Hồ hỏi:

- Các cháu có đồng ý vậy không?

- Thưa Bác, có ạ!

Tất cả chúng tôi đồng thanh trả lời.

Năm 1957, Đoàn đại biểu Chính phủ Inđônêxia sang thăm Hà Nội, giáo sinh các dân tộc ở trường chúng tôi mặc trang phục theo dân tộc mình, đón Đoàn tại lễ đường Trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Bác Hồ giới thiệu chúng tôi với Tổng thống Xucácnô.

Rồi Người quay sang hỏi chuyện chúng tôi:

- Cháu là người dân tộc Khmer phải không?

- Dạ, phải!

Tôi vô cùng ngạc nhiên không hiểu tại sao Prak Hồ biết.

- Cháu học lớp mấy?

Người hỏi tiếp.

- Dạ, lớp 7 ạ!

- Nhớ ba má, quê hương miền Nam không?

- Dạ, nhớ lắm ạ!

Prak Hồ dặn:

- Cố gắng học thật giỏi để thể hiện tấm lòng nhớ thương ba má và quê hương…

Lần ấy là lần thứ ba và cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp Bác. Từ đó, trong quá trình học tập cho đến khi tốt nghiệp, bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ ở Liên Xô (1970) và mãi mãi không bao giờ tôi quên lời dặn dò của Người.

(Trần Thanh Pôn kể, đăng trên Báo Sài Gòn ngày 19/5/1990)

Tâm Trang (tổng hợp)


 4. Hai lần gặp Bác

Trung thu năm 1966, Thành đoàn tổ chức cho Câu lạc bộ thiếu nhi biểu diễn tại Nhà hát thành phố, có báo cáo mời Bác Hồ đến vui với các cháu.

Sắp đến giờ mở màn. Mọi người nóng lòng mong Bác đến. Tôi đang khẩn trương chuẩn bị phía trong sân khấu. Thỉnh thoảng lại khẽ hé riđô nhìn ra các hàng ghế đầu xem Bác tới chưa. Nhưng chỗ Bác vẫn để trống mà phía sau đã ngồi đầy ắp ba tầng nhà hát.

Chợt có tiếng reo to: "Bác Hồ! Bác Hồ!". Tôi quay lại đã thấy Bác đứng đằng sau cánh gà trong bộ quần áo lụa giản dị, tay cầm chiếc quạt giấy nhẹ nhàng quạt cho mấy cháu đứng bên. Bác hỏi:

- Hôm nay các cháu biểu diễn gì?                                                                                                                                                     . .

- Dạ thưa Bác, hôm nay chúng cháu biểu diễn ca múa nhạc ạ!

Bác hỏi tiếp:

- Thế có tiết mục văn nghệ dân tộc không?

- Thưa Bác, có ạ!

Các cháu ríu rít quanh Bác, còn tôi, vì hồi hộp quá không biết nên thưa Bác điều gì. Bác đi thăm các đồng chí phục vụ nhà hát rồi xuống xem biểu diễn.

Tối biểu diễn hôm đó thành công tốt đẹp, vui, sôi nổi hơn bao giờ hết.

Một lần khác, tôi dẫn gần 100 cháu và cán bộ phụ trách vào biểu diễn phục vụ khách tại Phủ Chủ tịch.

Khi các cháu vừa hóa trang và chuẩn bị xong thì Bác và một số đồng chí từ Nhà sàn đi tới, trên con "đường xoài" mát rượi. Các cháu ùa ra đón Bác, còn tôi và mấy cán bộ đội chỉ đứng ngây ra nhìn Bác và đàn cháu nhỏ. Cháu nào cũng muốn chen vào để được gần Bác, để được Bác cầm tay, xoa đầu và hỏi han. Bác và các cháu đi dần về phía "sân khấu" nơi Bác sẽ tiếp khách.

Chợt Bác hỏi:

- Hôm nay các cháu làm gì mà đánh phấn, má hồng thế này?

- Thế không đánh phấn thì có biểu diễn được không? - Bác hỏi tiếp.

Các em đồng thanh trả lời:

- Thưa Bác có ạ!

Cán bộ phụ trách chúng tôi lúc ấy đều hiểu ý Bác: Không nên quá câu nệ hình thức son phấn đối với tuổi thơ trong những buổi sinh hoạt thế này.

Cuối buổi biểu diễn, Bác cùng khách gọi các cháu đến để chia kẹo và chụp ảnh cùng Bác.

(Theo Lê Bul, đăng trên báo Hà Nội mới ngày 15-5-1985)

5. Những kỷ niệm ngoại giao sâu sắc với Bác Hồ

Sau chiến thắng Việt Bắc, Bác và anh Trường Chinh gặp tôi, giao nhiệm vụ tổ chức một đoàn đại biểu ngoại giao nước ngoài nhằm tuyên truyền về cuộc kháng chiến của ta, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Nhận nhiệm vụ được giao, tôi về tổ chức ngay đoàn đi.

Trong khi anh em đang chuẩn bị tài liệu để lên đường, Bác gọi tôi đến hỏi về công việc chuẩn bị và sức khỏe của đoàn, Bác bảo tôi: "Chú xem ai có khó khăn gì về gia đình không? Trước khi đi, cần kiểm tra lại sức khỏe của anh em, vì tôi biết chuyến này đi vất vả". Rồi Bác trao cho tôi bức thư do Bác tự đánh máy nhờ tôi trao lại cho anh em trong đoàn. Bác nói: "Cố gắng động viên tinh thần anh em cho tốt". Trong thư Bác viết:

"Gửi các đồng chí lên đường!

Một, chúc các đồng chí đi đường, chân cứng, đá mềm, thuận buồm xuôi gió.

Hai, các đồng chí đi đường sẽ cực khổ, công tác sẽ khó khăn.

Các đồng chí phải đem toàn tinh thần và nghị lực của thanh niên yêu nước mà chịu đựng, phấn đấu, khắc phục mọi sự gian nan, để tranh lấy thắng lợi.

Ba, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ to nhỏ, các đồng chí phải luôn luôn nhớ rằng: Mình là đại biểu cho thanh niên yêu nước, ra ngoài để giúp anh em công tác, để đem tình thân ái của Tổ quốc cho kiều bào và để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn, các đồng chí phải: Ở trong nội bộ thì thương yêu giúp đỡ nhau, phê bình và học tập nhau. Trong công tác, thì cố gắng làm cho đầy đủ nhiệm vụ, làm cho xứng đáng lòng tin cậy của anh em thanh niên, của đoàn thể và của đồng bào.

Mong rằng các đồng chí sẽ nhớ những lời thành thật đó, và sẽ làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe.

Chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 2 năm 1948

Hồ CHÍ MINH"

Bác ký bằng mực tím và đóng dấu vuông, nhỏ, màu đỏ rất đẹp.

Tôi mang thư của Bác đọc cho anh em trong đoàn nghe. Ai nấy xúc động lắm. Anh Nguyễn Chương nhờ tôi báo cáo lên Bác là dù khó khăn, gian khổ thế nào, anh em cũng cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Tôi đem ý kiến của anh em trong đoàn báo cáo lên Bác. Bác khen như vậy là tốt. Bác còn dặn phải hết sức quan tâm đến anh em, phát thêm cho mỗi đồng chí một bộ áo quần phòng khi đi đường…

Sau này, tôi nghe anh Nguyễn Minh kể lại, chuyến đi dù rất gian khổ nhưng ta vẫn cố gắng tuyên truyền ra quốc tế về cuộc kháng chiến của ta, nhận được sự giúp đỡ to lớn của nhân dân thế giới đối với nhân dân Việt Nam. Chuyến đi dài ngày của đoàn mang lại kết quả tốt đẹp, Bác rất vui mừng vì kết quả đó.

Nhân đà thắng lợi sau chiến thắng biên giới, Bác và Trung ương mở rộng mối quan hệ với các nước anh em. Một hôm, Bác gọi tôi đến và nói Bác muốn cử một đoàn đại biểu của ta sang thăm Trung Quốc và Triều Tiên nhằm góp phần cổ vũ nhân dân Trung Quốc anh em trong công cuộc xây dựng lại đất nước và nhân dân Triều Tiên anh em chiến đấu giải phóng Tổ quốc của họ. Cuộc đi thăm của ta còn nhằm mục tiêu chung là thắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân ba nước Việt - Trung - Triều, cùng nhau trao đổi, cùng nhau học tập kinh nghiệm, góp phần đẩy mạnh cao trào chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược Châu Á. Bác còn nói đại ý: Chúng ta hãy coi trọng công tác quốc tế như công tác trong nước. Bác giao cho tôi làm Trưởng đoàn, còn các thành viên trong đoàn do tôi lựa chọn. Nhưng Bác căn dặn: Đây là đoàn đại biểu có tính chất mặt trận - nhân dân, nên thành phần cần có công nhân, nông dân, quân đội, trí thức, phụ nữ, thiếu niên… Tôi vâng lời Bác dặn, bắt tay ngay vào soạn thảo kế hoạch và chọn người cho chuyến đi.

Ngày 03-7-1951, phái đoàn lên đường. Khi xe sắp chuyển bánh thì Bác đến. Bác bắt tay từng người rất chặt, kiểm tra hành lý của chúng tôi xem đủ chưa và ân cần dạy bảo những điều cần thiết khi ra nước ngoài. Vấn đề mà Bác chốt lại là cố gắng giữ mối quan hệ thật tốt đẹp với nhân dân các nước, coi đó là phẩm chất người cán bộ làm nhiệm vụ quốc tế.

Sau hơn sáu tháng hành trình, thăm nhiều nơi ở Trung Quốc và Triều Tiên, ngày 13/12/1951, phái đoàn rời khỏi cột mốc biên giới Trung - Việt để về nước. Nghỉ ngơi ít ngày lấy lại sức khỏe, tôi xin phép gặp Bác và các anh trong Bộ Chính trị để báo cáo kết quả chuyến đi. Chuyến thăm này đã mang mối tình của nhân dân Việt Nam và của Bác đến với nhân dân Trung Quốc và Triều Tiên. Qua cuộc đi thăm này, chúng tôi thấy rõ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ có uy tín lớn trên trường quốc tế. Bác đánh giá cao chuyến đi. Bác nói: "Đây là chuyến đi của tình hữu nghị anh em Việt - Trung - Triều chiến đấu và chiến thắng".

(Hoàng Quốc Việt kể, trích trong cuốn Bác Hồ trong trái tim các nhà ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1990)

6. Đóa sen hồng

Bác Hồ - người anh hùng giải phóng dân tộc, một nhà văn hóa lớn, một người ông, một người cha vô cùng kính yêu của những người làm nghệ thuật như tôi. Là nghệ sỹ chèo, tôi đã vinh dự được gặp Bác bốn lần. Lần thứ tư tôi được gặp Bác là vào ngày 17/7/1969, sau khi tôi đi biểu diễn ở nước ngoài về. Tôi được Bác cho phép vào ăn cơm với Bác tại phòng riêng, có cả anh Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác cùng ăn. Bác hỏi tôi:

- Kim Liên đi Tây về chắc thèm canh cua lắm nhỉ?

Tôi thưa với Bác:

- Cháu thèm lắm, Bác ạ!

Bác lại bảo:

- Ừ, hôm nay Bác cho cháu ăn cơm với canh cua.

Thế là ba bác cháu ngồi vào mâm cùng ăn rất vui. Trong mâm cơm của Bác hôm đó có canh cua, có cà, một đĩa phèo lợn, một đĩa rau xào, một đĩa thịt nạc xào và một bát dấm ớt. Tôi ngồi ăn nhưng vẫn không ngừng quan sát Bác xem Bác ăn có ngon miệng không. Còn Bác thì không quên gắp thức ăn cho tôi. Thấy Bác ăn ít quá, tôi cố mời Bác ăn. Bác nói:

- Khi Bác ăn được thì không có cái gì để ăn. Khi có cái ăn thì ăn không được.

Tôi xúc động đến nghẹn ngào vì thương Bác!

Bác hỏi tôi:

- Chồng cháu có hay viết thư về không? Bích và Hồng có khỏe không?

Tôi sửng sốt và xúc động đến nghẹn ngào, không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc mà vẫn còn nhớ đến chồng, đến con của một người như tôi. Tôi ấp úng trả lời:

- Dạ thưa Bác, đã sáu năm rồi cháu chưa được gặp chồng cháu. Còn hai cháu Bích, Hồng vẫn khỏe ạ.

Bác lại hỏi tôi:

- Chú Xuân Thủy tặng cho cháu bài thơ thế nào, cháu đọc đi cho Bác nghe.

Tôi buông đũa xuống mâm và đọc bài thơ Đóa sen hồng:

Kim Liên quê ở Nam Hà…

Bác ngắt ngay ở đó và bảo:

- Kim Liên vốn ở Nam Đàn chứ.

Nói xong, Bác bảo tôi đọc tiếp. Tôi đọc một mạch trong giọng ngâm xúc động. Bác chăm chú nghe tôi đọc thơ. Còn tôi thì chăm chú nhìn Bác suýt nữa quên cả lời thơ. Tôi đọc xong, Bác gật đầu khen hay. Tôi vô cùng sung sướng và nói:

- Cháu thấy Bác đẹp như ông tiên vậy.

Bác liền quay sang nói với anh Vũ Kỳ giọng rất vui:

- Nó lại nịnh Bác để Bác thưởng kẹo cho nó đấy.

Ôi! Câu nói sao mà giống hệt như những người ông nói với cháu mà tôi vẫn được nghe ở gia đình hoặc ở đâu đó trong làng quê Việt Nam.

Ăn cơm xong Bác dặn anh Vũ Kỳ:

- Chú nhớ gửi kẹo cho hai cháu Bích, Hồng nhé.

Sau đó, Bác cho phép tôi được lên thăm Nhà sàn của Bác. Tôi theo chân Bác hồi hộp bước lên cầu thang. Bước vào phòng riêng của Bác, tôi đưa mắt quan sát khắp gian phòng đơn sơ mà lòng trào dâng một niềm thương cảm. Tôi không ngờ Bác Hồ, vị Chủ tịch nước kính yêu và vĩ đại của dân tộc lại ở trong một gian phòng nghỉ, tiện nghi quá giản đơn, của cải chẳng có gì! Như hiểu được ý nghĩ của tôi, Bác nói giọng trầm buồn:

- Bác chẳng có gì cho cháu cả! Bác chỉ có cái thước mà lúc còn trẻ bôn ba qua các nước, Bác có nhặt được mảnh gỗ, tự tay đẽo thành một cái thước kẻ để dùng, nay Bác cho cháu để làm kỷ niệm.

Tôi cầm cái thước mà rơm rớm nước mắt vì không ngờ Bác lại nghèo đến thế. Tôi phát hiện trên cái thước có ghi ba chữ cái: S - N - K (Suy nghĩ kỹ). Một lần nữa tôi lại hiểu thêm cuộc đời và nhân cách vô cùng trong sáng của Bác. Đến uyên thâm và vĩ đại như Bác mà khi viết và nói gì cũng phải: "Suy nghĩ kỹ". Cho đến nay, tôi vẫn giữ cái thước của Bác Hồ như giữ một vật thiêng liêng nhất.

(Kim Liên kể, trích trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)

7. Mắc đèn trong vườn Bác

Ngày ấy, có vị tổng thống đến thăm nước ta. Cũng như mọi lần, chúng tôi vui sướng chuẩn bị vào Phủ Chủ tịch mắc đèn trang trí trong vườn Bác.

Chúng tôi đến nơi làm việc thật sớm, phần để cho công việc chóng xong, phần để ngắm Bác kính yêu khi Bác đi những đường quyền trông khỏe mạnh, nhanh nhẹn và đẹp mắt, hoặc Bác chăm cây vú sữa, tưới luống rau cải, tỉa cành hoa hồng buổi sớm...

Ăn cơm chiều xong, chúng tôi vội vã kiểm tra lại phần việc của mình, cố không sai sót để Bác vui lòng. Đúng 19 giờ 30 phút Bác ra vườn với chúng tôi. Cũng như mọi lần, chúng tôi sung sướng chào Bác. Bác tươi cười chào lại và nói:

- Các chú công nhân bật đèn lên cho Bác xem đi!

Tôi chạy vội lại phía trạm điện đóng cầu dao. Ánh sáng điện tỏa trên các ngọn cây, dưới vòm lá, lấp lánh, chiếu sáng đẹp khuôn mặt hiền từ và chòm râu bạc của Bác. Tôi sung sướng mời Bác đi quanh khu vườn rộng. Bác chú ý xem từng ngọn đèn và luôn luôn gật đầu tỏ ý hài lòng. Tôi đang phấn khởi thì Bác dừng lại, chăm chú nhìn một ngọn đèn pha dưới gốc cây rồi thân mật bảo tôi:

- Ngọn đèn này phải để khuất dưới lùm cây. Như thế đẹp hơn. Đồng bào qua đường nhìn vào đỡ chói mắt. Miệng nói, Bác nhanh nhẹn bước lại ngọn đèn. Tôi lo lắng quá vì lúc đó Bác lại đi đôi guốc mộc trên đường rải sỏi, dễ trượt ngã. Tôi chạy theo thưa với Bác:

- Bác để chúng cháu làm ạ!

Nhưng Bác đã cúi xuống, hai bàn tay cầm lấy thân đèn. Không còn cách nào khác, tôi cùng Bác khiêng pha đèn nặng vào lùm cây đinh hương. Giây phút ấy tôi vừa ân hận vừa sung sướng. Ân hận vì mình chưa làm cho Bác vừa ý, sung sướng vì được làm việc bên Bác dầu chỉ có mươi phút.

Ngọn đèn được Bác thay chỗ, đặt dưới vòm cây đinh hương lá nhỏ, khiến ánh sáng của nó đẹp hẳn lên. Bây giờ người đi đường nhìn vào sẽ không trông thấy đèn, chỉ thấy một vùng ánh sáng chiếu qua kẽ lá hắt lên thành một màu xanh dịu.

Một lần khác, chúng tôi lại vào chăng đèn ở Phủ Chủ tịch, để Bác đón khách quý. Nhớ lời Bác dặn: "Phải luôn luôn phát huy sáng kiến. Nhiệm vụ của chúng tôi là trang trí bóng đèn ở khu vực nhà tiếp khách phải khác hẳn mọi lần. Chẳng hạn, những lần trước, trên mỗi cây, chúng tôi thường mắc bóng đèn các màu xanh, đỏ, tím, vàng lẫn lộn. Lần này chúng tôi không làm thế. Như hai cây dừa nước ở bên nhà Bác ở, tôi đặt dãy đèn một màu từ dưới gốc lên ngọn. Sau đó thì tỏa ra các cây. Mỗi lá một dây đèn pha ánh sáng chiếu hắt lên. Cố nhiên là đèn chúng tôi để khuất hẳn trong lùm cây như lần trước Bác đã chỉ bảo. Khu vườn cây của Bác lộng lẫy hẳn lên. Chúng tôi sung sướng quá khi được Bác khen:

- "Lần này các chú mắc đèn đẹp đây. Khách của chúng ta cũng khen ngợi".

Sau khi khách về, chúng tôi được Bác cho xem phim. Tôi dắt cháu Vinh mới lên bốn tuổi cùng đi. Bác xoa đầu, bẹo má phình của nó rồi nói:

- Con chú kháu quá nhỉ!

Trước khi chiếu phim, Bác lại hỏi:

- Các chú thợ điện đã đủ mặt chưa?

Đồng chí tổ chức buổi chiếu phim thưa với Bác đã có đủ Bác mới cho chiếu. Lần này Bác cho chúng tôi xem cuốn phim "Người con gái của Đảng". Phim mới nên chưa có lời dịch thuyết minh, cầm bản nội dung phim, Bác dịch lại cho chúng tôi nắm được đầu đuôi câu chuyện. Bác xem rất chăm chú. Đến hết phim, Bác đứng dậy xúc động nói với chúng tôi:

- Các cô, các chú nhớ lấy! Người cộng sản là phải như thế!

Hôm tôi được kết nạp Đảng, trước cờ Đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời dặn dò của Bác lại văng vẳng bên tai tôi.

(Theo Dương Văn Hậu, trích trong cuốn Chúng ta có Bác Hồ, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1970)

Tâm Trang (tổng hợp)


12. Làm quân báo phải hết sức cảnh giác

Trung tuần tháng 7 - 1950, cơ quan của Bộ Chỉ huy chiến dịch đã có mặt tại địa điểm gần huyện lỵ Quảng Uyên (Cao Bằng). Một hôm, anh Văn gọi tôi cùng đến thăm các đồng chí cố vấn Trung Quốc ở cách chỉ huy sở Tà Lạng không xa. Trên đường về anh Văn nói với tôi: "Chúng ta ghé vào thăm Bác, nghỉ một lúc".

Sau khi anh Văn lên báo cáo với Bác trở về, bảo tôi: "Bác cho phép đồng chí lên gặp Bác đấy". Sắp được gặp Bác, tôi vừa mừng, vừa lo vì lần đầu tiên được trực tiếp báo cáo công việc với Bác, hoang mang không biết nói chuyện gì, bắt đầu câu chuyện ra sao thì chúng tôi đã đến nơi Bác nghỉ. Bác ngồi dậy nhìn tôi và có lẽ Bác thấy tôi đang lúng túng, Bác hỏi tôi về tình hình địch. Rồi Bác chỉ cho tôi ngồi gần và nói:

- Trong trận này ta đánh lớn, nhất định thắng nhưng địch không chịu thua một cách dễ dàng. Tình hình sẽ diễn biến phức tạp và khẩn trương. Chú làm quân báo phải hết sức cảnh giác, phải theo dõi chặt chẽ hành động của địch. Phải biết dựa vào dân khéo tổ chức và hướng dẫn cụ thể thì dân sẽ cung cấp tin tức tốt cho bộ đội. Chú rõ chưa?

- Vâng ạ.

- Thế nào bộ đội ta cũng bắt được nhiều tù binh địch, các chú phải giải thích chính sách tù hàng binh của ta cho họ rõ, để họ yên tâm. Làm công tác này chú có biết tiếng Pháp đấy chứ?

- Dạ có!

Bác suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp:

- Chú báo lại với Ban Chính trị chú ý tờ báo của mặt trận. Phải tuyên truyền kịp các chiến thắng của ta, những gương chiến đấu dũng cảm của bộ đội, những người tốt, việc tốt tận tụy phục vụ chiến đấu của đồng bào các dân tộc - chú ý viết ngắn gọn, dễ hiểu để kịp thời động viên bộ đội và nhân dân. Bác nói tiếp:

Ta đánh lớn và đánh dài ngày, cần nhiều lương thực và đạn dược. Bạn có giúp cho ta nhưng ta phải huy động trong dân nữa. Đồng bào dân tộc Cao - Bắc - Lạng rất hăng hái đóng góp tuy còn thiếu thốn. Phải hết sức tiết kiệm.

Trước khi tôi ra về, Bác còn dạy tôi cách rang thịt heo "kiểu Việt Minh" và dặn tôi nhớ phổ biến cho anh em.

Gần một tiếng đồng hồ bên cạnh Bác, được Bác căn dặn những điều rất thiết thực cho công tác, tôi rất phấn khởi và vô cùng vinh dự khi được gặp và hầu chuyện với Bác được toại nguyện. Đến nay hồi tưởng lại, tôi không bao giờ quên lần gặp Bác ngày hôm đó. Nhớ Bác với bộ đồ nâu, khăn mặt vắt trên vai, ngồi tấm ván kê trên những tảng đá như lão nông dân. Nhớ mãi thái độ niềm nở, những lời chỉ bảo ân cần truyền cảm với những tiếng cười đôn hậu thắm tình cha con của Bác.

Một hôm, Bác đến Sở Chỉ huy gọi tôi và bảo đưa Bác đi gặp tù binh. Tôi lúng túng không biết làm thế nào để giữ bí mật, sợ tù binh nhận ra Bác thì Bác đã chỉ thị cho bác sĩ đem thuốc đỏ và bông băng râu Bác lại y như một chiến sỹ bị thương. Thật là tuyệt diệu. Tôi cho người chạy ra báo cho đồng chí Nghiêm Xuân Hiếu, cán bộ quân báo đang hỏi cung ở trại chuẩn bị gấp cho cán bộ trên gặp tù binh.

Tôi đưa Bác đến trạm, ba sĩ quan tù binh, một Đại úy Đồn trưởng Đông Khê và hai Trung úy đứng dậy khi thấy Bác vào. Lần đầu tiên tôi được nghe Bác nói tiếng Pháp hay quá, rất chuẩn. Ba tên tù binh mắt mở to rất ngạc nhiên.

Trên đường về, Bác cho biết hôm trước Bác đã gặp một toán tù binh được giải về trại, thấy có một tù binh bị thương, áo rách, Bác đã cho cái áo… Đi được một đoạn, Bác hỏi tôi:

- Sao chú lột giày của tù binh rồi treo lên cổ họ? Đối với người Châu Âu, không có giày thì họ rất khó khăn, nếu chú sợ tù binh chạy thì chí ít chú phải cho họ đi tất chứ.

Rồi Bác cười và tôi cũng cười theo.

Chiến dịch kết thúc, Bộ Chỉ huy triệu tập Hội nghị sơ kết tại Lam Sơn - Cao Bằng. Có đông đủ cán bộ của ta và bạn đến dự. Hội nghị kết thúc, tôi ra về, tình cờ được gặp Bác, Bác nói: Chú quân báo! Trong chiến dịch công tác nắm địch có ưu và khuyết điểm, cần phải được tổng kết, nhưng chú ý giữ bí mật, rồi Bác cho tôi một điếu thuốc lá thơm.

Tôi vô cùng cảm động.

Chiến dịch biên giới kết thúc, kỷ niệm về những lần gặp Bác ở mặt trận đó mãi mãi còn in sâu đậm trong lòng tôi.

(Cao Pha kể, trích trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)

13. "Sen vàng" tỏa hương

Hôm đó là sáng Chủ nhật, vào giữa mùa Thu năm 1963. Theo thường lệ, tôi sang nhà ăn rất sớm, vì từ nhà riêng sang nhà ăn khoảng cách chỉ mươi bước đường. Thật không ngờ Bác đã đến sớm hơn tôi...

Đã gần ba chục năm, nhưng mỗi lần gợi nhớ lại, chị Lan vẫn xúc động như buổi ban đầu đột ngột gặp Bác ngày nào.

 ... Tới nhà ăn, chị Lan định trao đổi công việc với tổ bếp thì một mậu dịch viên từ trên gác chạy xuống báo tin:

- Bác, Bác Hồ đến thăm nhà ăn.

- Thật à? Đâu Bác đâu?

- Bác đang trên gác.

  Vừa bàng hoàng, vừa xúc động, hai chân chị cứ díu vào nhau. Chị bỏ dép, chân không cứ thế chạy vội lên gác. Đúng là Bác Hồ rồi. Bác mặc quần áo kaki, chân đi dép cao su. Bác đang ở trong phòng chia cơm và thức ăn. Dường như Người đang trầm ngâm trước những suất cơm và thức ăn ít ỏi... Một đồng chí giới thiệu chị là người phụ trách nhà ăn tập thể Kim Liên này. Bác chỉ tay lên chiếc bóng đèn và một góc trần nhà nhắc nhở:

- Nơi chia thức ăn, sao để bẩn thế này?

Đến bây giờ chị mới nhìn thấy, bao lâu nay chị đâu có để ý. Hơi luống cuống, chị chưa tìm được lời. Nhưng nhìn vẻ mặt hiền từ và nụ cười độ lượng của Bác, chị trấn tĩnh lại:

- Thưa Bác chúng cháu xin sửa chữa ạ.

 Bác đi xuống nhà bếp, Người ôn tồn hỏi đồng chí Khai khi ấy là bếp trưởng:

- Chú làm công việc này có vui, có phấn khởi, có yên tâm không?

- Dạ, thưa Bác, cháu rất yên tâm. Vì đây là nghề của cháu. Trước đây cháu đi bán phở rong ạ!

Bác lại hỏi:

- Chú nấu thức ăn có được người ăn khen bao giờ không?

- Dạ, thưa Bác cũng có khi được khen, nhưng đôi lần cũng bị chê ạ!

Bác cười bảo:

- Nếu thế thì phải làm sao để ngày càng có nhiều lời khen và ít tiếng chê chứ!

Rồi Bác đề nghị đưa đi xem công trình phụ: Nhà tắm - nhà vệ sinh.

Trước khi ra về Bác gặp nhóm mậu dịch viên làm ca sáng, Người nói:

- Các cháu làm công việc gì?

- Thưa Bác, chúng cháu phục vụ bàn ạ!

- Công việc của cháu có gì vui, nói Bác nghe!

- Thưa Bác, khi nào được khách ăn khen, chúng cháu rất vui ạ.

Bác lại hỏi:

- Kim Liên là gì, các cháu có biết không?

- Thưa Bác không ạ!

Bác giảng giải:

- Kim là vàng, Liên là sen. Kim Liên và sen vàng. Đã là hoa sen vàng các cháu phải phấn đấu sao cho hương thơm tỏa mỗi ngày một xa. Bây giờ còn ít người ăn, sau này nhà ăn phát triển, các cháu còn phải phục vụ nhiều. Các cháu phải cố gắng góp phần bảo đảm sức khỏe của công nhân, cán bộ.

Bác còn dặn thêm:

- Các cháu phải làm thật tốt. Bao giờ có kết quả tốt, các cháu báo cho Bác biết, Bác sẽ trở lại thăm.

(Theo Trần Thành, báo Hà Nội mới, 1980).

14. Có cũ mới có mới

Cuối tháng 02 năm 1957, Bác Hồ đến thăm Đại hội văn nghệ lần thứ hai. Tôi là nhà văn cao tuổi nhất được cử ra tiếp Bác cùng với ông Hội trưởng. Gặp chúng tôi, Bác hỏi ngay:

- Việc khai thác vốn cũ dân tộc, các cụ đã làm đến đâu rồi?

- Thưa Bác, chúng tôi đang cố gắng.

Bác nói:

- Nên làm nhanh. Có trước mới có sau. Có cũ mới có mới, nhưng chúng ta không nên nệ cổ. Bây giờ là thời đại cách mạng, phải nhanh, phải cải cách.

Bác ngồi viết mấy câu để ra nói ở Đại hội. Bác đưa chúng tôi xem để góp ý kiến. Tôi thưa:

- Bác cũng là nhà đại văn nghệ rồi!

Bác bảo:

- Không đâu! - Ra Đại hội, Bác vừa cười vừa nói: - Cụ Hoàng vừa nói tôi là nhà văn nghệ. Không đâu, tôi chỉ là người thích văn nghệ thôi, chưa phải là nhà văn nghệ.

Cả hội trường vỗ tay, kính phục đức độ khiêm tốn của Bác. Câu nói của Bác làm tôi suy nghĩ rất nhiều. "Phải có trước mới có sau, có cũ mới có mới, nhưng ta không nên nệ cổ". Trong sáng tác, tôn trọng tính dân tộc, nhưng vẫn nâng cao vốn cũ lên để kết hợp với những đặc điểm của thời đại ngày nay. Thái độ của Đảng, của Bác đối với vốn cổ văn học nghệ thuật của cha ông ta là rất đúng.

Còn tuy Bác không nhận là một nhà văn nghệ, chỉ là người yêu văn nghệ thôi, nhưng theo tôi, chính Bác là một nhà thơ vĩ đại.

(Theo nhà văn Hoàng Ngọc Phách, trích trong cuốn Bác Hồ với văn nghệ sĩ)

15. Muôn vàn tình thân yêu dành cho các cháu gái

Một điều Bác dạy bảo mà suốt đời tôi không bao giờ quên là: “Báo chí là đại biểu cho dư luận, phải giúp Chính phủ đạt được thành công trong các chính sách đối nội đối ngoại. Sau này những lúc tình hình cách mạng có chuyển biến mới, người làm báo phải suy nghĩ nhiều. Câu nói của Bác giúp tôi nhớ tới vị trí và tính chất của báo chí ta. Một lần, Bác hỏi chị Thanh Thủy và tôi: “Các cô đã có con chưa? Các cô đã biết bế con, nuôi con chưa? Làm báo Phụ nữ không phải chỉ nói chính trị suông, giải phóng phụ nữ chung chung mà còn phải hướng dẫn cho chị em cách nuôi con, dạy con chăm lo việc gia đình. “Chị em trong cơ quan hỏi Bác nhiều điều. Bác trả lời cả những câu hỏi nhỏ nhặt nhất: “Tại sao trong họa báo Liên Xô lại thấy ảnh nhiều chị em để tóc dài? Có phải là sau khi vận động phụ nữ cắt tóc ngắn rồi lại phải vận động phụ nữ để tóc dài hay sao?”. Bác trả lời đại ý: Sau Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô có rất nhiều khó khăn trong công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới. Phụ nữ phải đem hết sức mình ra chiến đấu và sản xuất, cho nên chị em ăn mặc giản dị, tóc cũng cắt ngắn để đi lại cho gọn. Bây giờ, chiến tranh thứ hai kết thúc đã nhiều năm, nền kinh tế đã được khôi phục và phát triển, đời sống được nâng cao, phụ nữ đã có thể trang điểm cho thêm đẹp, ai cho rằng để tóc dài đẹp và không vướng víu gì trong sản xuất thì cứ để…

Năm 1952 có Đại hội liên hoan các anh hùng, chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất và Hội nghị bàn về chiến tranh du kích. Sau hai cuộc họp lớn đó, mọi người náo nức khen ngợi hai bản báo cáo của anh hùng Nguyễn Thị Chiên và của chị Phạm Thị Nhật, Bí thư chi bộ. Một hôm, Bác đến thăm cơ quan, chị em chúng tôi đều nói đến hai bản báo cáo ấy. Bác hỏi: “Các cô có biết vì sao mà báo cáo của các cô ấy hay không?”. Chị Đinh Thị Cẩn thưa: “Đó là do chị Chiên, chị Nhật đều lăn lộn, xông pha nhiều trong thực tiễn chiến đấu cho nên mới nói lên sự thật rất sinh động. Bác vừa cười vừa nói: “Đúng là như thế, nhưng không phải chỉ có thế. Các bản báo cáo ấy hay còn là do không có sự sửa chữa, thêm thắt của nhiều người khác…”. Tôi suy nghĩ rất nhiều. Câu nói ý nhị của Bác nhắc nhở tôi mỗi khi sử dụng hoặc biên tập lại bài của thông tin viên, bạn đọc trong đông đảo nhân dân, phải luôn luôn cố gắng ghi lại đúng đắn, trung thực những lời nói, những ý nghĩ mộc mạc, giản dị của những con người trong thực tiễn sản xuất và chiến đấu… không thể tùy tiện sửa đổi thêm bớt theo ý nghĩ chủ quan của mình./.

(Trích trong cuốn Những kỷ niệm sâu sắc của phụ nữ Việt Nam với Bác Hồ,  Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 2005)

Tâm Trang (tổng hợp)

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

45051623
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
9017
60731
510576
45051623